Hòn Ngọc Viễn Đông

nơi có thể tìm thấy tất cả mọi thứ về Sài Gòn

Hình ảnh có tháp đồng hồ cổ kính

Hình ảnh có tháp đồng hồ cổ kính

Thương xá Tax có một lịch sử lâu đời và được bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 19, là một phần của Sài Gòn xưa hoa lệ. Tòa nhà cùng với những công trình kiến trúc thời Pháp thuộc khác như Chợ Bến Thành, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố, Nhà hát lớn thành phố, Dinh toàn quyền (nay là Hội trường Thống Nhất), Dinh Xã Tây (này là Ủy ban nhân dân thành phố) góp phần tạo nên một “Hòn ngọc Viễn Đông”, một “Ville de Sai Gon” tao nhã và sôi động bậc nhất Châu Á thời bấy giờ.

Hình ảnh tòa nhà GMC những năm 40

Hình ảnh tòa nhà GMC những năm 40

Thương xá Tax ngày ấy được mang tên Les Grands Magazins Charner (GMC) được xây dựng theo phong cách kiến trúc Pháp với những nét chấm phá mang đậm đường nét văn hóa Á Đông. Les Grands Magazins Charner tọa lạc tại vị trí đẹp nhất của trung tâm Sài Gòn, kinh doanh các mặt hàng bazar sang trọng được nhập khẩu chủ yếu từ Anh, Pháp và các nước phương tây nhằm phục vụ cho giới thượng lưu Sài thành và các đại điền chủ Lục tỉnh Nam kỳ vào thời kỳ đó.

Cùng với việc kinh doanh tại GMC rất hưng thịnh, để tận dụng tối đa công năng và hiệu quả sử dụng tòa nhà, người chủ GMC đã quyết định đập bỏ tháp đồng hồ và xây thêm một tầng nữa, đồng thời chữ GMC được đặt trên nóc tòa nhà, quan khách có thể nhìn thấy từ rất xa.

Đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, tòa nhà GMC được Hội Mậu Dịch đổi tên thành Thương xá Tax, mặt bằng được chia nhỏ và cho các tiểu thương thuê vị trí để buôn bán. Vào thời kỳ này, việc mua bán vẫn rất nhộn nhịp, hàng hóa không khác mấy so với trước, đồng thời các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới bắt đầu được du nhập nhiều hơn vào Việt Nam.

Hình ảnh tòa nhà Tax vào thời VNCH

Hình ảnh tòa nhà Tax vào thời VNCH

Sau ngày 30/4/1975 tòa nhà Thương xá Tax được giao lại cho UBNDTP, Tòa nhà không còn là địa điểm kinh doanh sầm uất; mặt bằng thỉnh thoảng được tận dụng làm không gian trưng bày các mặt hàng, máy móc công nghiệp do các đơn vị quốc doanh của thành phố sản xuất.

Đúng ngày Quốc tế Thiếu nhi 01/6/1978, một lần nữa Thương xá Tax được đổi tên thành Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi Thành phố, với đội ngũ mậu dịch viên khăn quàng đỏ, đánh dấu sự náo nhiệt trở lại của tòa nhà tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh sau một thời gian trầm lắng.

Hình ảnh thiếu nữ với khăn quàng đỏ

Hình ảnh thiếu nữ với khăn quàng đỏ

Đến năm 1981, trên cơ sở sáp nhập Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi và các quầy hàng chuyên doanh trong tòa nhà trước đó, UBNDTP quyết định thành lập Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Thành phố trực thuộc Sở Thương Nghiệp để nâng tầm hoạt động, đáp ứng việc phục vụ rộng rãi nhu cầu người tiêu dùng và tòa nhà là một trong những cửa hàng lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ.

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử cùng biến động của thành phố, tòa nhà vẫn tiếp tục tồn tại một cách bền vững và lặng lẽ. Tuy nhiên, dấu ấn thời gian ngày một in hằn trên từng cây cột và từng mảng tường… bản thân tòa nhà cần được đầu tư sửa chữa một cách tổng thể.

Những năm cuối thập niên 90 của Thế kỷ 20, tòa nhà một lần nữa được cải tạo và chuẩn bị cho giai đoạn buôn bán tấp nập, thịnh vượng mới. Thời điểm này, tòa nhà trở thành một trung tâm giao dịch thực sự, hàng hóa tại đây vô cùng phong phú, từ hàng may mặc, mỹ nghệ đến những mặt hàng xa xỉ đều xuất hiện. Việc giao thương với người Nga rất được chú trọng nên thời kỳ này tòa nhà còn có một tên gọi khác là “chợ Nga”.

Ngày 18/10/1997, Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Thành phố được đổi tên thành Công ty Bán lẻ Tổng hợp Sài Gòn, trực thuộc Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA)

Cửa hàng bách hóa tổng hợp thành phố (1981-1990)

Cửa hàng bách hóa tổng hợp thành phố (1981-1990)

Ngày 19/01/1998, dòng chữ THƯƠNG XÁ TAX chính thức được đặt trên nóc tòa nhà thay thế dòng chữ Cửa Hàng Bách Hóa Tổng Hợp Thành Phố, đánh đấu sự trở lại của một thương hiệu đã tồn tại và ăn sâu vào nếp nghĩ của người Sài Gòn xưa.

Hình ảnh giai đoạn sau khi cải tạo mặt tiền

Hình ảnh giai đoạn sau khi cải tạo mặt tiền

Bước vào thời kỳ đổi mới, trước sự cạnh tranh từ các trung tâm thương mại do người nước ngoài đầu tư và quản lý, một lần nữa áp lực cạnh tranh đã buộc Thương xá Tax phải tự làm mới mình.

Ngày 26/4/2003, một Trung tâm Thương mại hiện đại mang tên THƯƠNG XÁ TAX được khánh thành trên cơ sở đại tu toàn bộ tòa nhà đã đáp ứng được sự mong đợi của lãnh đạo cũng như đông đảo nhân dân thành phố và du khách đến từ khắp nơi trên Thế giới.

Tòa nhà với câu chuyện hơn “100 năm lịch sử” đã và đang là một trung tâm thương mại sầm uất, lâu đời nhất tại Việt Nam; một địa điểm tham quan du lịch nổi tiếng của Thành Phố Hồ Chí Minh, kết nối với những di tích vang bóng một thời như: Bưu điện Trung tâm Thành phố, Nhà thờ Đức Bà, Nhà hát lớn Thành phố, Chợ Bến Thành, Dinh Độc lập và các Bảo tàng đã và đang cùng nhau góp phần quảng bá hình ảnh và con người Việt Nam nói chung và Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng đến với bạn bè thế giới.

Hình ảnh Thương xá Tax năm 2003

Hình ảnh Thương xá Tax năm 2003

Nguồn: Thương Xá Tax website

Bạn có biết, thời Pháp, ở Sài Gòn đã từng có một tượng đài ở giữa giao lộ Lê Duẩn và Pasteur ngày nay?

Đó là bức Tượng Gambetta.

Tượng Gambetta tại đại lộ Norodom

Vị trí 1: Tượng Gambetta tại giao lộ Norodom và Pasteur

Tượng Gambetta tại Sài Gòn ban đầu nằm giữa đường Norodom (nay là Lê Duẩn) và Pellerin (nay là Pasteur). Sau đó khi kinh đào Charner bị lấp để trở thành Đại lộ Charner (nay là Nguyễn Huệ), và Chợ cũ ở đại lộ Charner bị dỡ bỏ, thì khu đất Chợ cũ được cải tạo thành Quảng trường Gambetta, với tượng đài Gambetta được dời về đây, đặt ở gần phía cuối Quảng trường.

Quảng trường Gambetta tại vị trí chợ cũ

Vị trí 2: Quảng trường Gambetta tại vị trí chợ cũ

Quảng trường Gambetta (còn được gọi là Quảng trường Chợ cũ) nằm giữa 4 con đường: mặt trước là Đại lộ CHARNER (Nguyễn Huệ ngày nay), mặt sau là Đường GEORGES GUYNEMER (sau này là Võ Di Nguy, nay là Hồ Tùng Mậu), phía bên phải là Đường VANNIER (nay là Ngô Đức Kế) và bên trái là Đường Phủ Kiệt (nay là Hải Triều), nơi sau này có trụ sở Ngân Khố và Học viện Ngân hàng TPHCM. Vị trí tượng Gambetta trong hình 2 chính là vị trí hiện nay của tòa nhà Bitexco 68 tầng.

Khi trụ sở Kho Bạc được xây dựng trên khu đất này thì tượng Gambetta được dời về Công viên Tao đàn (khi đó mang tên Parc de Maurice Long hay Jardin De Ville, và người Việt hồi đó quen gọi là “Vườn Ông Thượng” hay “Vườn Bờ-rô”). Tượng Gambetta gần phía sau sân banh Tao Đàn.

Tượng Gambetta tại vườn Bờ-rô

Vị trí 3: Tượng Gambetta tại vườn Bờ-rô

Theo ông Vương Hồng Sển trong cuốn Sài Gòn Năm Xưa thì năm 1945 khi Nhật đến VN, “chánh phủ Pháp muốn thâu dụng số đồng dùng vào chiến tranh, sai thợ nấu lão Gambetta, thì hỡi ôi! Thân lão là ersatz, đồ đồng giả, không dùng được…”

SƠ LƯỢC VỀ GAMBETTA

Léon Gambetta sinh ngày 2/4/1838 tại Cahors và mất ngày 31/12/1882 tại Sèvres (“thọ” 44 tuổi). Ông là một danh nhân chính trị gia Cộng hoà Pháp, làm Thủ Tướng (kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) từ 1881-1882, vào khoảng thời gian Pháp sắp bắt đầu đặt nền đô hộ trên đất nuớc VN. Ông cũng thuộc phái các chính trị gia ủng hộ việc xâm chiếm mở rộng thuộc địa cho Pháp quốc, do công trạng này mà Gambetta đã được dựng tượng tại Sài Gòn là thủ phủ của Nam kỳ là nơi đã bị Pháp chiếm sớm nhất.

Ảnh và Lời bình: manhhai

Hồ Con Rùa từ đường Trần Cao Vân nhìn qua đường Trần Quý Cáp (Võ Văn Tần)

Hồ Con Rùa từ đường Trần Cao Vân nhìn qua đường Trần Quý Cáp (Võ Văn Tần)

VỊ TRÍ

Nguyên thủy ban đầu, tại vị trí Hồ Con Rùa hiện nay, vào năm 1790 là vị trí cổng thành Khảm Khuyết của thành Bát Quái (còn gọi là thành Quy). Về sau vua Minh Mạng đổi tên thành cửa Vọng Khuyết. Tuy nhiên sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835) thì vào năm 1837, nhà vua đã cho phá thành Bát Quái và xây dựng một ngôi thành nhỏ hơn mang tên là thành Phụng. Vị trị cửa Khảm Khuyết trở thành một điểm ở ngoài thành và nối thẳng con đường ngoài mặt tây thành xuống bến sông.

LỊCH SỬ: HỒ CON RÙA TRƯỚC ĐÂY TỪNG LÀ THÁP NƯỚC, SAU ĐÓ LÀ CÔNG TRƯỜNG CHIẾN SĨ TRẬN VONG RỒI MỚI TRỞ THÀNH HỒ CON RÙA NHƯ BÂY GIỜ

Vào năm 1878, tháp nước được xây tại vị trí Hồ Con Rùa ngày nay để cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng gọi là Công trường Tháp Nước (Place de Château d’eau). Tháp xây kiên cố, khá cao, có thang hình xoắn ốc dẫn lên tới đỉnh.

Tháp nước tại vị trí bùng binh Hồ Con Rùa năm 1878

Tháp nước tại vị trí bùng binh Hồ Con Rùa năm 1878

Đến năm 1921 thì tháp nước bị phá bỏ do không còn đủ sức đáp ứng nhu cầu cung cấp nước nữa. Vị trí này trở thành giao lộ như ngày nay, với tên gọi là Công trường Maréchal Joffre (cắt giao lộ là đường Testard – nay là đường Võ Văn Tần – và đường Larclauze – nay là đường Trần Cao Vân).

Ngày 11/11/1927, người Pháp đã cho xây dựng tại vị trí này một tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng với hồ nước nhỏ để tưởng niệm lính Pháp và lính Đông Dương chết trong thế chiến thứ nhất. Trong cuộc chiến tranh này, khoảng 9 vạn người Đông Dương – mà phần đông là người Việt Nam – bị Pháp bắt đưa sang châu Âu để đánh nhau với Đức hoặc làm việc trong các cơ xưởng quân sự. Công trình này được gọi là công trường Chiến sĩ trận vong hay công trường Ba Hình.

Công trường chiến sĩ trận vong với tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng và một hồ nước nhỏ được xây dựng năm 1927 để tưởng niệm lính Pháp và lính Đông Dương chết trong thế chiến thứ nhất

Công trường chiến sĩ trận vong với tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng và một hồ nước nhỏ được xây dựng năm 1927 để tưởng niệm lính Pháp và lính Đông Dương chết trong thế chiến thứ nhất

Sau đó, công trường này mang tên Thống chế Joffre (1852-1931), người từng cầm quân xâm lược nước ta ở Bắc Kỳ. Các tượng đài này tồn tại đến năm 1956, sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, thì tượng này cũng bị Chính phủ Việt Nam Cộng hòa phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước nhỏ. Giao lộ cũng được đổi tên thành Công trường Chiến sĩ.

Tượng đài ba binh sĩ Pháp để tưởng niệm lính Pháp và lính Đông Dương chết trong thế chiến thứ nhất bị dở bỏ vào năm 1956 trong thời VNCH

Tượng đài ba binh sĩ Pháp để tưởng niệm lính Pháp và lính Đông Dương chết trong thế chiến thứ nhất bị dở bỏ vào năm 1956 trong thời VNCH

Công trường Chiến Sĩ (1964), lúc này tượng đài ba binh sĩ Pháp đã bị dở bỏ chỉ còn lại tháp nước nhỏ

Công trường Chiến Sĩ (1964), lúc này tượng đài ba binh sĩ Pháp đã bị dở bỏ chỉ còn lại tháp nước nhỏ

Thời điểm xây dựng Hồ Con Rùa chưa được xác định chính xác. Một số tài liệu cho là nó được xây dựng vào năm 1965, vài tài liệu khác thì cho là 1967. Người thiết kế Hồ con Rùa là kiến trúc sư Nguyễn Kỳ. Mẫu thiết kế của ông được chọn trong cuộc thi tìm quy hoạch mới cho địa danh này (Nguyễn Kỳ nay sống tại Sydney, Australia).

VỀ CÔNG TRÌNH VÒNG XOAY HỒ CON RÙA

Từ 1970 đến 1974, Hồ Con Rùa thực sự được trùng tu và chỉnh trang trong đó gồm việc dựng thêm và điều chỉnh 5 cột bê tông cao có dạng như một bông hoa nhiều cánh, trên đỉnh là 1 hình tròn to tượng trưng cho đồng xu được hứng bởi những cánh hoa đó, hình ảnh này biểu tượng cho bàn tay xoè ra đón nhận viện trợ. Con rùa được làm bằng lá đồng mỏng, ốp trên khung sườn bằng thép góc và thép lá. Vì vậy không tốn kém mấy về vật liệu và dễ thực hiện. Bia trên lưng rùa một mặt thì khắc câu tri ân các quốc gia đã viện trợ, một mặt khắc tên tất cả các quốc gia này.

ho-con-rua

Hình ảnh con rùa bằng đồng với tấm bia trên lưng tại bùng binh Hồ Con Rùa ở Sài Gòn trước 1975

Công trình mới này còn bao gồm một vòng xoay giao thông với đường kính khoảng gần 100 mét, được trang trí bởi cây xanh và hồ phun nước hình bát giác lớn với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm. Vì vậy công trình xây dựng tại vòng xoay hồ con rùa chính là Đài kỷ niệm Viện trợ Quốc tế cho Việt Nam Cộng Hòa tức miền Nam VN trước năm 1975, khi VN còn chia cắt làm 2 phần nam bắc VN.

Hồ Con Rùa năm 1972 với hình con rùa bằng đồng cõng tấm bia tri ân các quốc gia viện trợ cho VNCH.

Hồ Con Rùa năm 1972 với hình con rùa bằng đồng cõng tấm bia tri ân các quốc gia viện trợ cho chính quyền miền Nam Việt Nam trước năm 1975

Công trình này còn bao gồm một vòng xoay giao thông với đường kính khoảng gần 100 mét, được trang trí bởi cây xanh và hồ phun nước hình bát giác lớn với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm.

Công trình này còn bao gồm một vòng xoay giao thông và hồ phun nước hình bát giác lớn với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm

vòng xoay giao thông với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm.

vòng xoay giao thông với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm.

Sau khi xây dựng xong thì ban đầu khu giao lộ này được đặt tên là Công trường Chiến sĩ Tự do, đến năm 1972 thì đổi tên thành Công trường Quốc tế hay bùng binh Hồ Con Rùa vì dứơi chân có một con rùa đội bia.

Đài Viện Trợ Quốc Tế - Hồ Con Rùa 1972

Đài Viện Trợ Quốc Tế – Hồ Con Rùa 1972

Sau năm 1975, các dòng chữ trên tấm bia bị chính quyền mới sơn phủ lên che đi. Đường Duy Tân bị thay tên thành đường Phạm Ngọc Thạch còn đường Trần Quý Cáp đổi thành đường Võ Văn Tần. Vào đầu năm 1976 (hay 1978), tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ, tuy con rùa không còn nhưng người dân vẫn quen gọi là Hồ Con Rùa, thay cho tên gọi chính thức.

Khu vực vòng xoay hồ con rùa bao quanh bởi các quán cà phê, là nơi tấp nập về đêm và là một trong những vòng xoay có nhiều cây xanh nhất thành phố Hồ Chí Minh.

VỀ GIAI THỌAI HỒ CON RÙA

Theo lời thuật lại của nhà báo ngành Công an Huỳnh Bá Thành (Ba Trung) trong cuốn sách “Vụ án Hồ Con Rùa” (NXB Tuổi Trẻ 1982) thì có các giai thoại truyền miệng kể là vào năm 1967, khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, đã mời một thầy phong thủy người Hoa nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập. Người thầy phong thủy này khen vị trí của dinh là vị trí của long mạch, trấn yểm vị trí của đầu rồng[3]. Cũng theo lời thuật trên thì con rồng này đầu tại dinh Độc Lập và đuôi nằm tại vị trí Công trường Chiến sĩ, tuy phát hưng vượng, nhưng do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp không bền, vì vậy cần phải cúng yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng không vùng vẫy nữa thì mới giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài. Cũng vì thế, mà theo một số người thì kiến trúc tháp cao giống như hình một thanh gươm (hoặc cây đinh/kim), đóng xuống hồ nước để giữ chặt đuôi rồng, và khuôn viên hồ nước có hình bát quái, bên giữa có hình âm dương.

Một số người khác thì lại cho rằng kiến trúc tháp lại giống hình đuôi rồng vươn cao, nhưng có con rùa đè chặt ở phần đầu ngọn. Số khác thì lại cho là nhìn từ trên cao xuống thì toàn thể kiến trúc trông giống như một con rùa. Một số người lại đưa giải thích là sở dĩ làm hình con rùa, vì trong dân gian, con rùa mới đội bia (trên lưng rùa lúc đó -xây dựng khoảng năm 1972- có một bia đá ghi công (Xem hình: 1 và2), và nơi đây được thiết kế như một đài tưởng niệm) và ngụ ý “mang ơn”. Nhưng tất cả cũng chỉ là giả thuyết hay là giai thoại thêu dệt thêm.

HNVĐ tổng hợp

Cầu Mống xưa có 2 làn xe

Cầu Mống xưa có 2 làn xe

Trong số những cây cầu cũ xưa còn sót lại ở Sài Gòn, có lẽ Cầu Mống là cây cầu mang hình bóng của một thứ thời gian lắng đọng nhất trong tâm tưởng của rất nhiều người yêu quý thành phố có những cây cầu in vóc dáng của năm tháng đã qua đi trên một dòng sông. Cầu Mống là loại cầu sắt thiết kế kiểu Pháp và do Pháp xây dựng nên in đậm nét “văn hóa cầu” phương Tây, thành cầu uốn cong, có những khoảng trống, sơn đen bắc qua kinh Tàu Hũ nối quận 1 và quận 4 (đất Khánh Hội xưa). Chân cầu phía quận 1 nằm chếch công viên Diên Hồng đối diện đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Công Lý cũ ). Sở dĩ gọi là công viên Diên Hồng vì phía sau đó là Hội trường Diên Hồng mà báo chí trước năm 1975 còn gọi là “Viện Bô Lão” vì đây là trụ sở Thượng Nghị Viện của chế độ cũ. Chân cầu phía quận 4 nằm trên đường Bến Vân Đồn thuộc địa phận phường 12, quận 4.

cau-mong-3

Cầu nầy do công ty vận chuyển Hàng hải Pháp Messageries maritimes bỏ vốn mướn công ty xây dựng Levallois Perret (tức Eiffel cũ) xây cất – có thể là trong cùng một giai đoạn với việc xây cất Cầu Quay Khánh Hội – do đó người Pháp cũng gọi cầu nầy là cầu “Công ty Messageries maritimes” (Công ty Đầu Ngựa) và người Việt Nam từ trước tới nay thường gọi là là cầu Móng Vĩnh Hội vì đây có thể là chiếc cầu đầu tiên có trụ móng. Cũng có thể vì hình dáng vòng cung của chiếc cầu giống như chiếc cầu vòng mống trời cho nên người dân bình dị Sài Gòn ngày xưa gọi nó là cầu Mống chăng? Cũng may là chiếc cầu Mống lịch sử nầy cho đến nay vẫn còn sống sót trong khi hình bóng chiếc cầu Quay Khánh Hội của Sài Gòn năm xưa đã không còn nữa.

Có hai khung đường xe chạy, một để đi lên cầu sang Vĩnh Hội và một để từ cầu phía Bến Vân Đồn/ Vĩnh Hội đi qua để xuống bến Chương Dương . Trước 30 tháng 04 năm 1975, bờ kinh Tàu Hủ ở dưới gầm cầu Mống phía bến Chương Dương là hai khuôn viên ấm cúng, thơ mộng và kính đáo cho những cặp tình nhân trẻ, già đưa nhau xuống đó tình tự ngày cũng như đêm.

cau-mong-1

Một điều ít người được biết đến: Cầu Móng là chiếc cầu đầu tiên của công ty Messageries Maritimes xây cất ngang qua con kinh Tàu Hủ và toà nhà Ngân Hàng Quốc Gia của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà (thời Pháp thuộc là Banque de l’Indochine / Ngân Hàng Đông Dương) chỉ mới được xây cất sau khi Cầu Móng đã được sử dụng.

Hòn Ngọc Viễn Đông tổng hợp

Nguồn: Từ Kế Tường & Nguyễn Công Chánh

Tọa lạc trên một khu đất rộng gần 2 ha, giới hạn bởi các con đường Lý Tự Trọng, Pasteur, Lê Thánh Tôn và Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Dinh Thống Đốc Nam Kỳ (Dinh Phó Soái)

Dinh Thống Đốc Nam Kỳ (Dinh Phó Soái)

Thời Pháp thuộc

Khởi đầu, tòa nhà Bảo tàng được khởi công xây dựng vào năm 1885 và hoàn thành năm 1890 theo thiết kế của kiến trúc sư người Pháp Alfred Foulhoux với mục đích sử dụng làm Bảo tàng Thương mại để trưng bày sản phẩm Nam Kỳ. Tuy nhiên, ngay sau khi xây xong, tòa nhà lại được Thống đốc Nam kỳ Henri Eloi Danel (1850 – 1898) dùng làm tư dinh. Về sau, tòa nhà được sử dụng hẳn làm dinh Thống đốc hay còn gọi là dinh Phó soái (trước năm 1911).

Thời Đệ nhị Thế chiến

Năm 1945, dinh Thống đốc nhiều lần đổi chủ. Sau khi quân Nhật tiến hành đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9 tháng 3, Thống đốc người Pháp Ernest Thimothée Hoeffel bị bắt; Thống đốc người Nhật là Yoshio Minoda sử dụng tòa nhà làm dinh thự.

Ngày 14 tháng 8, người Nhật giao lại dinh thự cho chính quyền Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam để làm dinh Khâm sai Đại thần Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm.

Đến ngày 25 tháng 8, Việt Minh cướp chính quyền, bắt giam Khâm sai Nguyễn Văn Sâm và Đổng lý văn phòng phủ khâm sai Hồ Văn Ngà tại dinh khâm sai. Sau đó, dinh trở thành trụ sở Ủy ban Hành chánh Lâm thời Nam bộ, gọi tắt là Lâm ủy Nam Bộ, rồi của Ủy ban Nhân dân Nam Bộ.

Ngày 10 tháng 9, Trung tá B. W Roe (phái bộ quân sự Anh) chiếm dinh làm trụ sở Phái bộ Đồng minh, buộc Ủy ban Nhân dân Nam Bộ phải dời về dinh Đốc lý.

Đến ngày 5 tháng 10, dinh được tướng Leclerc dùng làm Phủ Cao ủy Cộng hòa Pháp tạm thời. Sau khi Cao ủy Cộng hòa Pháp tại Đông Dương là Đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu chọn dinh Norodom làm Phủ Cao ủy, thì dinh lại trở thành nơi làm việc của tướng Leclerc, nhưng lần này với danh nghĩa chính thức là trụ sở của Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Việt Nam.

Trụ sở của Nam Kỳ Quốc

Năm 1948, trụ sở của Nam Kỳ Quốc

Nam Kỳ Quốc và Quốc gia Việt Nam

Sau khi tái chiếm Đông Dương, ngày 23 tháng 5 năm 1947, chính quyền Pháp đã bàn giao dinh cho Thủ tướng Lê Văn Hoạch để làm trụ sở chính phủ Nam kỳ quốc. Ngày 2 tháng 6 năm 1948, chính phủ lâm thời Quốc gia Việt Nam được thành lập và dinh được sau đó chuyển thành dinh Tổng trấn (sau đổi thành Thủ hiến) Nam phần dưới quyền sử dụng của Thủ hiến Trần Văn Hữu.

Tại đây, ngày 9 tháng 1 năm 1950, đã nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hơn 6000 học sinh-sinh viên và giáo viên các trường, yêu cầu thả ngay những học sinh, sinh viên bị bắt vô cớ trước đó. Lúc 13 giờ chiều ngày hôm đó, chính quyền của thủ hiến Trần Văn Hữu đã huy động một lực lượng lớn cảnh sát để đàn áp, bắt giữ 150 người, đánh 30 người trọng thương tại chỗ, học sinh trường Petrus Ký là Trần Văn Ơn đã bị trúng đạn tử thương. Sự kiện này đã dẫn đến đám tang Trần Văn Ơn ngày 12 tháng 1 năm 1950, có đến 25.000 người tham gia.

Đảo chánh 1963

Quân đảo chánh trong dinh năm 1963. Trên tường đầy những vết đạn.

Việt Nam Cộng hòa

Sau Hiệp định Genève, Ngô Đình Diệm về Sài Gòn nhận chức thủ tướng. Vì dinh Norodom còn do Cao ủy Pháp là tướng Paul Ely đang sử dụng, nên dinh trở thành dinh Thủ tướng tạm thời từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 7 tháng 9 năm 1954. Dinh cũng được Quốc trưởng Bảo Đại đặt cho tên mới là dinh Gia Long. Con đường La Grandìere trước mặt cũng được đổi tên thành đường Gia Long.

Sau cuộc trưng cầu dân ý phế truất Bảo Đại năm 1955, Ngô Đình Diệm dùng tòa nhà này làm dinh Quốc khách. Ngày 27 tháng 2 năm 1962, dinh Độc Lập bị ném bom, Ngô Đình Diệm dời phủ tổng thống sang đây và ở đây cho đến ngày bị đảo chính lật đổ vào tháng 11 năm 1963.

Trong thời gian 1964 –1965, dinh được dùng làm dinh Quốc trưởng. Ngày 31 tháng 10 năm 1966, khi dinh Độc Lập xây lại xong, tòa nhà này được dùng làm trụ sở của Tối cao Pháp viện Việt Nam Cộng hòa cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Bảo tàng TPHCM

Bảo tàng TPHCM ngày nay

Sau năm 1975

Sau 1975, tòa nhà tạm thời không dùng cho mục đích cụ thể nào. Ngày 12 tháng 8 năm 1978, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định sử dụng tòa nhà này làm Bảo tàng Cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 13 tháng 12 năm 1999 thì đổi tên thành Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh như hiện nay. Bảo tàng giới thiệu sự hình thành cũng như phát triển của Sài Gòn, các di tích khảo cổ, hiện vật về những sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, văn hóa gắn liền với Sài Gòn.

Kiến trúc

Tổng diện tích của kiến trúc bao gồm một tòa nhà rộng hơn 1.700 m² gồm hai tầng của tòa nhà chính và tòa nhà ngang thiết kế theo phong cách cổ điển – phục hưng, kết hợp Âu – Á: mặt tiền của tầng lầu mang đường nét Tây phương, nhưng phần mái lại mang dáng dấp Á Đông. Bao quanh khu nhà là một khuôn viên vườn hoa có hình dạng như một hình thang bao quanh bởi 4 con đường đã kể trên.

Do mục đích ban đầu của tòa nhà là Bảo tàng Thương mại trưng bày những sản vật trong nước, vì thế ở hai bên cửa chính có 2 cột trụ trang trí bằng hai tượng nữ thần Thương nghiệp và Công nghiệp. Ngay phần chóp trên mái tam giác ở mặt phía trước được trang trí bằng một tượng đầu người nghiêm trang. Hai bên trang trí bằng các họa tiết đắp nổi như cành dương liễu, tràng hoa lá bao xung quanh, rắn khoanh tròn, hình tượng con gà tượng trưng cho ban ngày và chim cú tượng trưng cho ban đêm ở hai góc, một vòng hào quang phía sau đầu tượng.

Nhiều họa tiết khác đắp nổi trên mái là sự kết hợp giữa các biểu tượng thần thoại Hi Lạp và hình tượng cây cỏ và thú vật vùng nhiệt đới như họa tiết thằn lằn và chim cao cẳng chuyển động bằng cách uống cong hoặc xòe cánh.

Bảo tàng thương mại

Bảo tàng thương mại với 2 tượng nữ thần công nghiệp và thương nghiệp

Năm 1943, Thống đốc Nam Kỳ Ernest Thimothée Hoeffel lại cho phá bỏ hai tượng nữ thần tại cửa chính của dinh để xây dựng một mái hiên.

Ngày 27 tháng 2 năm 1962, dinh Độc Lập bị lực lượng đảo chính ném bom, Tổng thống Ngô Đình Diệm dời về dinh Gia Long và cho xây dựng hầm bí mật trong dinh. Theo hồ sơ lưu trữ, hầm được xây dựng từ tháng 5 tháng 1962 đến tháng 10 năm 1963 thì xong, với tổng kinh phí 12.514.114 đồng lúc bấy giờ, và theo bản thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.

Sự thật về căn hầm trong Dinh Gia Long

Ngày 27/2/1962, xảy ra vụ đảo chính, ném bom Dinh Độc Lập mưu sát gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm. Mặc dù cuộc mưu sát không thành nhưng sự kiện này khiến Ngô Đình Diệm lo sợ cho số phận của mình.

Ông ta liền dời về Dinh Gia Long và quyết định cho xây dựng một đường hầm bí mật để trú ẩn. KTS Ngô Viết Thụ được Ngô Đình Diệm tin cẩn giao cho việc vẽ bản thiết kế xây dựng đường hầm này. Sau khi KTS Ngô Viết Thụ sang Mỹ, Kỹ sư Phan Đình Tăng- Giám đốc Nha Kiều lộ là người duy nhất được giao nhiệm vụ thi công, kiểm soát nghiên cứu lại đồ án và hoàn tất bản vẽ.

Hầm được nhà thầu Trương Đăng Khoa xây dựng từ tháng 5/1962, đến ngày 30/10/1963 thì hoàn tất với tổng kinh phí là 12.514.114 đồng (tiền thời đó). Hầm được đào sâu xuống mặt đất 4 m, đúc bằng xi măng cốt sắt (170kg sắt/m3 bê tông), tường dày 1 m.

Với thiết kế này, các lọai trọng pháo và bom 500kg nếu có oanh tạc vào dinh cũng không làm sập hầm. Hầm có 6 cửa bằng sắt, đóng mở bằng cách xoay một bánh lái như cửa tàu thủy, phía trong còn có chốt sắt thật lớn để cài khi có sự cố.

Phần mặt đất phía trên nắp hầm được ngụy trang bằng những chậu cây cảnh. Trong hầm có hệ thống thông gió, hệ thống điện thắp sáng, hệ thống nước sạch và cống dẫn nước thải, nước mưa.

Tổng diện tích mặt bằng hầm là 1392,3m2 (30,6×45,5). Từ trên xuống hầm theo 2 đường cầu thang A (hướng đường Nam Kỳ khởi nghĩa) và cầu thang B (hướng đường Pasteur). Theo đường cầu thang A xuống gặp 2 phòng liền nhau: Phòng khách và phòng vệ sinh.

Theo đường cầu thang B xuống gặp phòng máy đèn. Từ phòng này đi xuống gặp ngay phòng của Ngô Đình Nhu và kế bên là phòng Ngô Đình Diệm với diện tích 17m2.

Phòng Ngô Đình Diệm đặt 1 chiếc bàn vuông, một cái bệ nhỏ và hệ thống thông tin liên lạc. Hầm có lối ra một lô cốt hướng đường Nam kỳ khởi nghĩa và 6 lỗ thông gió, 2 lỗ thoát nước bẩn.

Do yêu cầu bí mật, các giấy tờ liên quan đến việc xây dựng hầm trước ngày 11/11/1963 (ngày Ngô Đình Diệm bị lật đổ) đều tránh nêu từ “Hầm” mà chỉ là “Công tác xây cất ở Dinh Gia Long).

Hầm được xây trong thời gian gấp rút nên chưa trang bị các vật dụng tiện nghi. Thậm chí, đến khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, một hạng mục rất cần thiết có trong dự trù vẫn chưa hoàn thành, đó là hệ thống máy quạt để điều hoà không khí dù máy quạt đã được nhập về để ở Sở Nội dịch.

Ngày 1/11/1963, quân đảo chính đã tấn công vào hầm. Tại đây còn một lá cờ trắng, một số tài liệu viết tay ghi lại những cuộc điện đàm tại phòng của Ngô Đình Diệm.

6 giờ 45 phút ngày 2/11/1963, Dinh Gia Long thất thủ. Đúng vào thời điểm này, 2 ông Diệm và Nhu đang cầu kinh tại nhà thờ Francisco Xavier (Nhà thờ Cha Tam).

Do có mật báo nên vài phút sau đó, quân đảo chính đã cho chiếc M.113 đến nhà thờ Cha Tam. 2 ông bị trói đưa lên xe rồi bị đánh đập và bị bắn chết trên đường đi.

Xem clip về đường hầm trong Dinh Gia Long:

Nguồn: Wikipedia, Tiền Phong.

Từ đường Nguyễn Huệ đến Hồ Tùng Mậu dài 170m, lộ giới 20m.

Vị trí: đường Hải Triều nằm trên địa bàn phường Bến Nghé quận I, khởi đầu từ đường Hồ Tùng Mậu đến đường Nguyễn Hụê, dài khoảng 100m. Đường lưu thông một chiều theo hướng từ Hồ Tùng Mậu đến Nguyễn Hụê.

Lịch sử: đường này thời Pháp thuộc là đường hẻm, lúc đầu chưa có tên, ngày 27-8-1926 người Pháp đặt tên là đường Phủ Kiệt. Ngày 4-4-1985, UBND thành phố đổi tên là đường Hải Triều cho đến nay.

Đường Phủ Kiệt vào thập niên 50. Tòa nhà mái ngói bên trái là Bitexco ngày nay. Ảnh: Carl Mydans

Đường Phủ Kiệt vào thập niên 50. Tòa nhà mái ngói bên trái là Bitexco ngày nay. Ảnh: Carl Mydans

Đường Phủ Kiệt vào thập niên 50. Tòa nhà mái ngói bên phải là ngân hàng Pháp Hoa (SFFC). Ảnh: Carl Mydans

Đường Phủ Kiệt vào thập niên 50. Tòa nhà mái ngói bên phải là ngân hàng Pháp Hoa (SFFC). Ảnh: Carl Mydans

Góc Võ Di Nguy (Hồ Tùng Mậu) và Phủ Kiệt (Hải Triều) năm 1950. Tòa nhà mái ngói là Bitexco hiện nay. Ảnh: Carl Mydans

Góc Võ Di Nguy (Hồ Tùng Mậu) và Phủ Kiệt (Hải Triều) năm 1950. Tòa nhà mái ngói là Bitexco hiện nay. Ảnh: Carl Mydans

Ngân hàng Pháp Hoa (SFFC) nằm giữa quảng trường Gabetta và Bvd De la Somme (góc đường Hải Triều và Hàm Nghi ngày nay)

Ngân hàng Pháp Hoa (SFFC) nằm giữa quảng trường Gabetta và Bvd De la Somme (góc đường Hải Triều và Hàm Nghi ngày nay)

Từ đường Lê Thánh Tôn đến đường Nguyễn Du dài 387m, lộ giới 20m.

Vị trí: Đường này nằm trên địa bàn phường Đakao, Quận I, khởi đầu từ đường Lê Thánh Tôn đến đường Nguyễn Du qua các ngã tư Lý Tự Trọng và ngã ba Nguyễn Trung Ngạn. Đường lưu thông 2 chiều.

Lịch sử: Đường là một trong các đường cổ nhất của Sài Gòn. Từ ngày 2-6-1871, gọi là đườn Phnom Pênh, đến ngày 24-2-1897, đổi là đường Lafont. Sau năm 1954 vào ngày 19-10-1955 chính quyền Ngô Đình Diệm đổi tên là đường Chu Mạnh Trinh. Từ ngày 30-4-1975 vẫn dung tên này cho dến nay.

Đường Chu Mạnh Trinh năm 1963, sau cuộc đảo chính. Photo by Pete Komada

Đường Chu Mạnh Trinh năm 1963, sau cuộc đảo chính. Photo by Pete Komada

Đường Chu Mạnh Trinh năm 1963, phía trước là ngã 3 giao với Nguyễn Du. Photo by Pete Komada

Đường Chu Mạnh Trinh năm 1963, phía trước là ngã 3 giao với Nguyễn Du. Photo by Pete Komada