Nhân vật

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Lẩn thẩn ngược dòng thời gian mới thấy, xứ ta xưa nay danh tiếng giai nhân thời nào cũng có, từ bậc anh thư thời dựng nước như Dương Vân Nga – bà hoàng mà tâm hồn và nhan sắc đã chinh phục hai vị danh tướng, về sau cùng là hai vị vua. Hoặc như bậc thi sĩ văn nhân có tiếng nhan sắc lại đa tình như Hồ Xuân Hương, thời phong kiến, trót sanh ra làm phận nữ nhi mà cũng thuyền năm bảy bến, lại dập dìu văn nhân tài tử tới lui, xét ra nhan sắc cũng không phải hạng thường tình. Đáng tiếc thay, hình dung nhân dạng các vị này thuở ấy đến nay không có gì lưu giữ, nên vĩnh viễn thuộc về lòng yêu kính trong nhân gian mà đúc tượng vẽ tranh, chứ không ai tường tận nhan sắc các bà đến bực nào sánh với kì tài, danh tiếng.

Nam Phương Hoàng Hậu

Nam Phương Hoàng Hậu

Còn lưu giữ hình ảnh đến nay, duy chỉ còn Hoàng hậu Nam Phương. Xứng danh là một bà hoàng cuối cùng của Việt Nam, ngoài nhan sắc vừa cao quý sang cả vừa nhu thuận nền nã, đúng chuẩn mũi dọc dừa, cổ cao ba ngấn và khuôn diện đăng đối, là người theo Tây học, vừa rành ngoại ngữ, vừa khéo phục tòng nhẫn nhịn vị cựu hoàng phong nhã. Nhưng rồi tấm hồng nhan dòng dõi ấy cũng qua đời nơi viễn xứ, viên bảo ngọc cuối cùng của vương triều một quốc gia giờ chỉ còn một phiến đá sơ sài khắc dòng chữ ngoại bang ici repose l’impératrice d’annam née marie thérèse nguyen huu thi lan.

NHỮNG NHAN SẮC HUYỀN THOẠI

Về sau, những huyền thoại nhan sắc đã làm nàng thơ của bao văn nhân thi sĩ, những cô đào, kỹ nữ nổi tiếng, những người tiên phong cho trào lưu thẩm mỹ một thời trong nữ giới Việt Nam như cô ba Trà, mệnh danh bà hoàng vũ trường, sòng bài Saigon hồi cuối thế kỷ 19. Theo những ghi chép lại của nhà Sài-gòn học Vương Hồng Sển, cuốn Sài-gòn Tạp-pí-lù, thì người này chính là giai nhân đã khuynh đảo mà thành cuộc chiến bất phân thắng bại giữa Bạch Công tử và Hắc Công tử, về sau thành huyền thoại đặc trưng Nam bộ của Công tử Bạc Liêu, đốt tiền soi lối cho người đẹp. Cô cũng một thời là người trong mộng của tác giả Vương Hồng Sển. Quả tình, sức quyết rũ của Cô Ba Trà phải mạnh mẽ mê hoặc lắm, mới khuynh đảo bao nam nhân lẫy lừng cùng thời, từ những vị thiếu gia miệt tỉnh, đến các quý ông học vị học hàm thành thị, cho chí văn nhân đa tình như văn sĩ họ Vương.

Nhưng mạn phép thầy Vương Hồng Sển mà nói, thì như Cô Ba Trà đây, dẫu kiều mị cỡ nào, cũng không thoát cái tiếng thường tình nữ nhi mà để đời xô đẩy, về sau cũng vì chuộng sân si phù phiếm mà dựa vào đàn ông mà thành danh, gọi là cái tài rù quến đàn ông, vậy thử hỏi, không có đàn ông, liệu Cô Ba Trà còn tài cán chi lưu danh cùng nữ nhi hậu thế? Vậy, xét ra, nhan sắc lẫy lừng nọ cũng còn chưa đủ để phác nên nét mặt đàn bà nước Nam. Vả chăng, dẫu cô Ba Trần Ngọc Trà danh sắc lẫy lừng là vậy, đến nay dường như tư liệu hình ảnh về cô cũng tìm không thấy có.

Cô Ba Trà

Cô Ba Trà

Sở dĩ phải gọi đầy đủ là Cô Ba Trà như vậy, là để phân biệt với Cô Ba có hình trên hộp xà-bông của hãng Xà-bông Việt-nam đầu thế kỷ 20, từng là hoa khôi chính thức (tức là có giải, có giám khảo chấm bầu hẳn hòi). May thay, hình ảnh về cô nay vẫn còn phổ biến nhất là tấm hình chân dung trên hộp xà-bông, vốn của ông Trương Văn Bền, đặt tên là hàng Xà-bông Việt-nam, nhưng sản phẩm in hình cô, về sau mặc tình lấy tên người đẹp trong hình mà gọi, thành ra cái tên Xà-bông Cô Ba đến này vẫn còn nằm trong tiềm thức của người Sài-gòn.

Nhắc đến đây, phải nói là nếu ngành người mẫu Việt Nam có tổ nghiệp riêng thì đó ắt phải là Cô Ba. Cùng với hình ảnh và danh thơm của mình, hãng xà-bông của ông Trương Văn Bền đã là sản phẩm nội địa đầu tiên của doanh giới Việt Nam thách thức tên tuổi đại gia là hãng xà-bông Marseille trứ danh của người Pháp, vốn trước đó vẫn độc quyền thao túng thị trường bản xứ, đúng là xứng đáng rạng danh cho cả thương nhân lẫn người đẹp Việt Nam thời đó.

Theo tư liệu ghi lại, dung mạo Cô Ba được mô tả như sau: “Trong giới huê khôi, nghe nhắc lại, trước kia, hồi Tây mới đến có cô Ba, con gái thầy thông Chánh là đẹp không ai bì, đẹp tự nhiên, không răng giả, không ngực keo su nhơn tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt mượt và thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi Nhà nước in hình vào con tem Nhà Thơ Dây Thép (Bưu điện)” (Sài-gòn Năm Xưa, Vương Hồng Sển), mới nghe đã thấy mồn một vẻ khả ái thanh tao lại chừng mực, đoan trang. Cô Ba lập gia đình và sống một cuộc sống bình thường.

Chỉ về sau, có tư liệu cho rằng cô Ba là “người đã dám cầm súng bắn chết tên biện lý Jaboin, bị Tòa đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19.6.1893 và bị xử tử ngày 18.1.1894 tại Trà Vinh” (Hỏi đáp về Saigon-Tp.Hồ chí Minh, nhiều tác giả, NXB Trẻ, tháng 06 2006). Chuyện này cũng là ước chừng nghe vậy, chưa có bằng cớ xác thực. Cũng biết đâu chừng, phàm thói người hễ là bậc giai nhân tiếng tăm lẫy lững, phải có chút tiểu tiết ba đào mới vừa bụng.

Cô Ba Xà Bông

Cô Ba Xà Bông

Ngoài ra, cùng thời với Cô Ba “Xà-bông” và Cô Ba Trà còn có rất nhiều huyền thoại về những nhan sắc Sài-gòn thời ấy, nhưng vẫn hầu hết vẫn là những giai thoại truyền khẩu, qua mỗi miệng kể lại càng thêm phần ma mị, huyễn hoặc, khó phân biệt thực hư. Như chuyện ái nữ của Chú Hỏa – đại hào phú trứ danh của Chợ Lớn, cùng kết cục bi đát do mắc bệnh phong cùi hay tâm thần chi đó mà chết trẻ, hay chuyện cô Marriane Nhị (Tư Nhị), có thời theo chân Yvette Trần Ngọc Trà, khuynh đảo bao thiếu gia hiếu sắc, tưởng sẽ hưởng buổi mãn khai trong nhung lụa, nhưng về sau, lần cuối cùng được nhìn thấy đã thành người đàn bà hành khất, kéo lê cuộc sống thương tật trên hè phố Sài-thành,…

Độ giữa thế kỷ 20, tên tuổi các người đẹp Sài-gòn phồn hoa trở nên phong phú hơn bao giờ hết. Hầu hết là hàng minh tinh cinema, đào tuồng, giới ca sĩ, vũ nữ phòng trà, kể cả chính giới…

Trần Lệ Xuân

Trần Lệ Xuân

Một trong những dung nhan khuynh đảo chính trị thời này phải kể đến bà đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân. Bản lãnh, sắc sảo và đa tình, cũng là người khởi xướng mốt áo dài cổ thuyền (sau này gọi là áo dài Trần Lệ Xuân) thêu cây trúc quân tử lộn ngược một cách ngạo nghễ.

Bà ngạo mạn tự ví mình với Marie Antoinette, với Trưng Vương đâm ra làm lắm chuyện vừa xấc xược thuần phong, vừa ngô nghê nực cười, khiến về sau, khi đã lưu vong tha hương, còn chăng trong dòng sử sắc đẹp chỉ một nét ố. Tiếc thay cho tấm hồng nhan, ghê gớm thay cho phận đàn bà cuồng vĩ.

Thời may, thập niên 70 còn có hai tên tuổi trứ danh nhất là nữ minh tinh màn bạc Thẩm Thúy Hằng và cố nghệ sĩ cải lương Thanh Nga.

Thẩm Thúy Hằng, được mệnh danh “Người đẹp Bình Dương” theo một phim nổi tiếng do cô thủ diễn. Khi nhan sắc mới được phát hiện, cô đẹp mơn mởn thanh xuân, khi đã nổi danh, những mong níu kéo lòng yêu mến của dân mộ điệu, lại nhờ thuật “gia cố” của phẫu thuật thẩm mỹ, trông lại càng vô cùng lộng lẫy. Cô đã từng hai lần đoạt giải Nữ Minh tinh Xuất sắc Á Châu tại Liên hoan Phim Đài Bắc, hai lần Ảnh hậu Á châu, danh hiệu Nữ Diễn viên Khả ái Nhất tại Liên bang Xô viết. Về sau trong dân gian, có nghe mấy câu vè ngộ nghĩnh rằng :

Nếu biết rằng em đã lấy chồng
Anh về lấy vợ, thế là xong.
Vợ anh chẳng đẹp bằng em mấy,
Chỉ đẹp xêm xêm…Thẩm Thúy Hằng

Thẩm Thúy Hằng

Thẩm Thúy Hằng

Vậy mới biết nhan sắc cô Thẩm này ngày xưa đã mặc nhiên được công nhận mà không cần trải qua sự kiểm duyệt của bất cứ ban giám khảo hoa hậu nào. Chỉ tiếc rằng, về sau, nhan sắc bị hủy hoại bởi hóa chất thẩm mỹ, công chúng ái mộ không còn được chiêm ngưỡng đóa hương sắc một thời ấy. Cô từ chối mọi cuộc tiếp xúc với công chúng, nghiên cứu Thiền học, chay trường và rất hiếm khi ra ngoài. Gần đây, lại thấy cô xuất hiện trên văn đàn với những kịch bản sân khấu và điện ảnh, như một cách tìm về với khán giả tri âm. Chỉ đến khi Thẩm Thúy Hằng đã rút về ở ẩn, ăn chay trường, người ta mới quên đi vẻ thiên kiều bá mị mà nhìn nhận ra tâm hồn và tài năng của người đẹp, hay phải chăng, đây mới là cái buổi mà nhan sắc tâm hồn đã tới kỳ viên mãn. Không khỏi ray rứt lòng người mộ điệu, trách cho oái oăm oan nghiệt của hồng nhan, lại càng trách cho nhan sắc mặn mòi thanh xuân là vậy, giá chi đừng nông nổi tham lam níu kéo, đã không nên đời bạc phận.

Cho đến tận ngày nay, lịch sử nhan sắc Việt Nam vẫn chưa lặp lại một tên tuổi nào có sức ảnh hưởng sâu rộng đến vậy.

Thanh Nga

Thanh Nga

Cùng thời với nghệ sĩ ưu tú Thẩm Thúy Hằng là tên tuổi của người được mệnh danh là “bà hoàng sân khấu” của miền Nam trước và cả sau 1975 – nghệ sĩ nhân dân Thanh Nga. Mái tóc mây dài và khuôn mặt trái xoan chuẩn mực, có thể ví cô với một dung nhan đăng đối, quý phái kiểu Audrey Hepburn của Hollywood vậy. Nghệ sĩ Thanh Nga có thể được xem là một tên tuổi được yêu mến nhất của nghệ thuật cải lương cho đến tận bây giờ, phải chăng, một phần cũng vì phát súng oan nghiệt đã chấm dứt cuộc đời cô khi tài, danh, và sắc đẹp đang ở đỉnh điểm, để lại phía sau không chỉ một huyền thoại về thanh sắc độc nhất vô nhị, mà còn là lòng yêu mến ngưỡng mộ cho đến tận bây giờ.

“ẢNH HẬU NHÂN DÂN” VÀ DANH HIỆU HOA KHÔI

Về sau, có lẽ chỉ với sự xuất hiện của nữ nghệ sĩ Diễm My, thì công chúng Việt Nam mới được một lần nữa nhìn ngắm nhan sắc kinh điển quý phái và mái tóc dài tương tự như vãn ảnh của cố nghệ sĩ Thanh Nga, tuy với đôi mắt sâu và sống mũi rất “Tây”. Tên tuổi rực rỡ nhất vào những năm 80 thế kỷ 20, khi mà nghề người mẫu còn vô cùng xa lạ tại Việt Nam, nghệ sĩ Diễm My đã tình cờ đi vào lòng công chúng không phải qua lãnh vực tân kịch hay điện ảnh mà là qua chính hình ảnh của mình, đặc biệt là qua ống kính phát hiện của nhiếp ảnh gia Nguyễn Kỳ. Cũng một phần với sự phát triển vượt trội về in ấn và xuất bản trong thành phố Hồ Chí Minh mà lịch và hình ảnh Diễm My cũng được tiêu thụ rộng rãi tại thị trường phía Bắc. Trong rất nhiều năm liên tiếp, hình ảnh của cô trên tờ lịch xuân mỗi năm đã trở thành một thước đo chuẩn mực về tiêu chuẩn cái đẹp lí tưởng, và cũng do đó, người đẹp Diễm My vẫn được phong danh hiệu Ảnh Hậu Nhân Dân (Hoa hậu chụp ảnh đẹp do …nhân dân bình chọn) giữ ngôi lâu bền nhất. Đến nay, tuy đã vào độ tuổi trung niên, Diễm My vẫn gìn giữ được vẻ đẹp vừa đài các, vừa thanh tân tươi tắn của hơn hai mươi năm về trước. Nói một cách khác, nhan sắc của “ảnh hậu miền Nam” Diễm My quả là hậu duệ xứng đáng của hương bóng tên tuổi Cô Ba hãng xà bông Trương Văn Bền ngày xưa.

Cũng từ cột mốc sắc đẹp và sự nổi tiếng của Diễm My, nghề người mẫu thời trang, các cuộc thi hoa hậu, hoa khôi cũng khởi sự rầm rộ tổ chức. Nối chân người đẹp Diễm My trải dài cho đến tận nay là muôn vàn những tên tuổi người đẹp mới xuất hiện: Kiều Khanh, Lý Mỹ Dung, Việt Trinh, Lý Thu Thảo,…

Đến những năm gần đây, người đẹp xuất hiện càng đông, đáng tiếc là không ít trong số này do trời phú chút dung nhan nhưng vụng đường giáo dưỡng mà nhẹ dạ gây không ít chuyện tai tiếng ê chệ, tiếng gọi “người đẹp” ngày nay cũng nhuốm ít nhiều ý mỉa mai chế giễu. Thêm phần, hầu như tiêu chuẩn “danh hiệu” đã trở thành điều tất yếu để công nhận người đẹp, nên mới có lắm cuộc vui gọi là thi xem ai đẹp nhất, mà nhiều người muốn đẹp nhất quá nên mới phải có càng nhiều cuộc thi, người đạt vương miện không gây nức lòng ngưỡng mộ, thậm chí không ít chuyện tiếu lâm về hoa khôi, hoa hậu ứng xử ngô nghê, nhân cách mù mờ, sinh ra lòng ngờ vực trong công chúng. Phàm đã quý phải hiếm, thứ chi nhiều nhan nhản cũng không thể trách lòng người hồ nghi. Hoa quý cũng chỉ một đóa trên cành, có đâu cả vườn hoa nhạt trồng vụng nở vội, hữu sắc mà hiếm hương, may chăng dùng làm phông nền chụp hình ngoại cảnh cho vui mắt thì được.

Diễm My

Diễm My

Sài-gòn như một người đẹp đeo quá nhiều nữ trang nên riết rồi công chúng không biết nên nhìn vào món nào mà trầm trồ ngưỡng mộ. Và rồi, thặng dư người đẹp mà đâm chóng chán, như thể mấy món đồ mỹ kí chóng bay màu nên thay đổi xoành xoạch, có đẹp, có long lanh, nhưng không phải hàng giá trị của món gia bảo quý giá, không chỉ vì kiểu cọ rồng phượng cầu kì hay cao giá bạc vạn, mà còn là bởi cái hồn ẩn chứa đằng sau, bởi cả cái độ bền bỉ của nước ngọc cùng tuế nguyệt thời gian, là nét trổ công phu tinh xảo, và đẹp chăng, giá trị chăng, ấy cũng là ở lòng người lấy làm quý, làm yêu mà giữ gìn nâng niu.

Hoa hậu hay hoa khôi, trộm nghĩ, thật chân ra, chỉ hậu duệ mới có quyền phán xét liệu chăng nét duyên có phải tận chân một chữ Mỹ mà tăng thêm giá trị về sau. Chứ là kẻ cùng thời, nhìn cũng chỉ biết đẹp, sao đoán được liệu sắc có còn đậm, hương có còn nồng ? Cũng một bề nhan sắc, thử hỏi có bao nhiêu tấm hồng nhan trở thành huyền thoại? Có chăng lúc này, cũng đáng cho kẻ đem lòng si mê cái sự đẹp nghiêng mình ghi tạ chút sắc hương những cánh hoa đời.

TRÁC THUÝ MIÊU
ảnh [sưu tầm].

Categories: Mỹ nhân | Tags: , , , , , | Leave a comment

“Nữ hoàng vũ trường” Cẩm Nhung và vụ tạt axit nổi tiếng nhất Sài Gòn

Cách đây đúng nửa thế kỷ, vào giữa năm 1963, tại Sài Gòn đã xảy ra một vụ đánh ghen được coi là rùng rợn nhất thành phố này. Đây cũng là lần đầu tiên ”Hoạn Thư” ở Sài Gòn biết sử dụng axít đậm đặc để thanh toán tình địch.

"Nữ hoàng vũ trường" Cẩm Nhung sau khi bị tạt axit được đăng trên một tờ báo của Sài Gòn trước 1975

“Nữ hoàng vũ trường” Cẩm Nhung sau khi bị tạt axit được đăng trên một tờ báo

Nạn nhân là cô vũ nữ nổi tiếng nhất Sài Gòn lúc ấy tên là Cẩm Nhung, người được mệnh danh là “nữ hoàng vũ trường”. Người thủ ác là một mệnh phụ phu nhân, vợ của một trung tá Sài Gòn. Vụ tạt axit rùng rợn này đã biến cô vũ nữ giàu có, đẹp lộng lẫy thành cô gái mù lòa xấu xí, phải đi ăn mày. Khi còn là vũ nữ, Cẩm Nhung nổi tiếng nhất Sài Gòn, lúc đi ăn mày cô càng “nổi tiếng” hơn, khi luôn đeo trước ngực bức ảnh mình chụp với người tình trung tá thời trên đỉnh cao danh vọng.

Bà lão mù lòa từng là vũ nữ

Một ngày đầu năm 2013, tại một xóm trọ nghèo ở thị xã Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang), nơi những người ăn xin, bán vé số, bốc vác tứ xứ đến thuê ở trọ, có một đám ma nghèo. Một bà lão bán vé số đã qua đời vì già yếu, bệnh tật. Không một người thân, bà lão được những người đồng cảnh ngộ lo cho một quan tài loại rẻ tiền, rồi đưa ra nghĩa địa… Sẽ không có chuyện gì đáng nói về đám ma nghèo của bà lão vô gia cư, nếu như người quá cố nói trên không phải là vũ nữ Cẩm Nhung lừng danh của nửa thế kỷ trước.

Trước ngày 30/4/1975, người ăn mày mù lòa Cẩm Nhung với cây gậy dò đường và tấm ảnh chụp chung với người tình treo trước ngực, lê bước khắp nẻo Sài Gòn để xin lòng thương hại của mọi người. Về sau do bị săn đuổi, bà xuống ăn xin ở bến phà Mỹ Thuận trên đường về miền Tây. Sau năm 1975, người ta còn thấy bà ngồi ăn xin trên bến phà Mỹ Thuận một thời gian. Từ khoảng năm 1978, không ai thấy người ăn mày đeo tấm ảnh trước ngực đâu nữa.

Người đời bàn luận rằng có lẽ bà đã bệnh chết hoặc đã quyên sinh để chấm dứt kiếp hồng nhan bạc phận của mình. Mãi sau này người ta mới phát hiện bà vẫn còn sống, vừa bán vé số vừa ăn xin quanh các ngôi chùa ở thị xã Hà Tiên, mà thường nhất là ở chùa Tam Bảo. Người ta nhận ra bà bởi khuôn mặt gớm ghiếc và đôi mắt mù lòa, hậu quả của vụ tạt axít năm xưa. Và nay, người ăn mày đặc biệt đã vĩnh viễn từ giả cõi trần, chính thức khép lại một kiếp hồng nhan đa truân, sau đúng nửa thế kỷ từ vụ đánh ghen rùng rợn năm nào.

Nữ hoàng vũ trường

Vũ nữ Cẩm Nhung sinh năm 1940 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi, cô phải rời xa Hà Nội để theo gia đình di cư vào Nam. Vào Sài Gòn được ít năm, khi cuộc sống chưa ổn định, cha của Cẩm Nhung lâm bệnh rồi mất, bỏ lại 3 người phụ nữ: mẹ cô, bà vú Sọ và cô. Cẩm Nhung phải bỏ học, xin vào làm tiếp viên trong một nhà hàng, chuyên bưng bê món ăn cho khách. Nhờ đó cô đã lân la làm quen với những bản nhạc, những điệu nhảy trong quán bar của nhà hàng. Để rồi khi chưa tới 19 tuổi, cô đã trở thành gái nhảy chuyên nghiệp trong giai đoạn phong trào nhảy đầm phát triển rầm rộ ở Sài Gòn.

Vũ trường tại Sài Gòn trước 1975

Vũ trường tại Sài Gòn trước 1975

Cẩm Nhung có khuôn mặt đẹp và làn da trắng hồng đặc thù của con gái xứ Bắc. Tạo hóa ban thêm cho cô đôi mắt lẳng lơ, thân hình quyến rũ. Đặc biệt đôi chân điệu nghệ của cô trong các vũ điệu cuồng say tại vũ trường Kim Sơn đã làm bao khách làng chơi phải ngẩn ngơ. Lúc ấy Sài Gòn có hàng trăm vũ trường, gái nhảy không đủ đáp ứng, vì vậy mà Cẩm  Nhung càng có giá, được các vũ trường săn đón như hàng độc, như của quý. Cô được dân chơi Sài Gòn phong là “Nữ hoàng vũ trường”.

Dù chỉ mới 23 tuổi và mới vài ba năm Cẩm Nhung làm vũ nữ, nhưng đã có không biết bao nhiêu tướng tá, đại gia đất Sài thành từng đắm đuối, say mê, săn đuổi, lấy lòng người đẹp.  Cùng với số tiền cát-sê cao ngất hàng đêm, cô gái trẻ đã sớm tạo dựng cho riêng mình cơ ngơi vững vàng. Cô có nhà ở trung tâm Sài Gòn, sống cùng mẹ và bà vú Sọ.

Cô đi qua nhiều vũ trường, cuối cùng dừng lại với vũ trường Kim Sơn trên đường Trần Hưng Đạo. Tại đây, cô đã trở thành người tình của tay trung tá công binh Trần Ngọc Thức. Cô vũ nữ 23 tuổi dù đã từng trải trong tình trường đã bị tay trung tá công binh lớn hơn cả chục tuổi “hớp hồn” ngay những lần gặp đầu tiên. Sự già dặn, từng trải, tiêu tiền như nước của gã, cùng với cái lon trung tá rất oai thời ấy đã làm cô vũ nữ sành điệu chấp nhận sa vòng tay bảo bọc của ông ta.

Thời ấy, “Thức công binh” (biệt danh của trung tá Trần Ngọc Thức) nổi lên như cồn trong giới ăn chơi ở Sài Gòn. Miền Nam bắt đầu tiếp nhận viện trợ ồ ạt của Mỹ, chủ yếu là vũ khí và đô-la để xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân đội, phục vụ chiến tranh.  Đó là cơ hội vàng để “Thức công binh” tham nhũng, trở nên giàu có, thừa tiền của để bao gái.

Vợ trung tá Trần Ngọc Thức tên thật là Lâm Thị Nguyệt, có biệt danh là Năm Rađô – một biệt danh giới giang hồ khu Cô Bắc đặt cho, do bà chuyên buôn mặt hàng đồng hồ Rado của Thụy Sỹ mới nhập cảng vào Sài Gòn. Bà Năm Rađô không lạ gì thói trăng hoa của chồng, nhưng lần này biết chồng say mê cô vũ nữ trẻ đẹp quên cả gia đình, bà như phát điên vì ghen. Bà đã vài lần đón đường hăm dọa, thậm chí tát tai dằn mặt vũ nữ Cẩm Nhung, nhưng bấy nhiêu đó không đủ làm cho cô gái trẻ rời xa chồng bà.

Vụ đánh ghen ghê rợn

Theo thú nhận của Cẩm Nhung với báo chí Sài Gòn sau khi xảy ra vụ đánh ghen ghê rợn, khi làm người tình của trung tá Thức, cô nghĩ rằng mình có thể trở thành vợ bé của ông ta, một việc khá bình thường trong xã hội Sài Gòn thời đó. Cô đâu biết rằng, trong lúc cô ngây ngất trong vòng tay của ông trung tá dìu dặt trong những điệu nhảy ở vũ trường Kim Sơn, thì ở khu gia binh Cô Bắc cách đó không xa có một người đàn bà đang âm thầm chuẩn bị một kế hoạch đánh ghen ghê rợn.

Bà Năm Rađô đã vạch kế hoạch tỉ mỉ tiêu diệt tình địch. Hai tên giang hồ có cỡ được bà Năm Rađô thuê với giá 2 lượng vàng để làm cái việc hủy diệt nhan sắc của cô vũ nữ. Bà Năm Rađô tin tưởng, khi Cẩm Nhung không còn nhan sắc, cô sẽ không thể quyến rũ chồng bà, Thức công binh sẽ trở về với vợ con.

Buổi chiều ngày 17.7.1963, trước khi vụ tạt axít xảy ra, bà vú Sọ của vũ nữ Cẩm Nhung vào phòng riêng báo cho cô biết, có một phụ nữ lạ mặt xuất hiện trước cổng nhà đòi gặp với giọng điệu rất hách dịch. Cẩm Nhung ra cửa, nhưng nại lý do người ở cầm chìa khóa đi chợ chưa về nên không mở được cửa. Người đàn bà lạ mặt là “Năm Ra-đô” không nhịn được, đã lên tiếng chửi bới tục tĩu, hăm dọa sặc mùi đao búa giang hồ rồi hậm hực bỏ ra về. Vũ nữ Cẩm Nhung không phải lần đầu tiên gặp cảnh ngộ này nên cô rất chủ quan và đinh ninh rằng cũng như bao nhiêu lần khác, mọi chuyện rồi sẽ qua.

Khoảng 22 giờ đêm, vũ nữ Cẩm Nhung rời khỏi nhà để đến vũ trường Kim Sơn. Hàng ngày cô đều rời khỏi nhà vào giờ này, hoặc đi taxi, hoặc có xe của đại gia đón rước, để cô đến vũ trường trước 23 giờ, nhảy nhót quay cuồng cho đến 3 – 4 giờ sáng. Khi Cẩm Nhung còn cách chiếc taxi khoảng 10 mét, bất ngờ từ bên kia đường một gã đàn ông băng nhanh qua đường, tiến về phía cô. Cẩm Nhung chưa kịp phản ứng thì gã đàn ông đã tạt mạnh ca axít vào mặt cô. Cẩm Nhung chỉ kịp kêu lên: “Chết tôi rồi, cứu tôi với” rồi ngã gục trên đường. Người đàn ông sau khi tạt axít đã băng qua bên kia đường, leo lên xe taxi mở cửa chờ sẵn, trên ấy có bà Năm Rađô.

Nghe tiếng kêu cứu, một số người đi đường đã chạy đến, họ thấy Cẩm Nhung nằm quằn quại dưới đường, mùi axít xông lên hôi nồng. Một người đàn ông đã ôm nạn nhân lên xe taxi, chở đến Bệnh viện Đô Thành (Bệnh viện Sài Gòn ngày nay). Do Bệnh viện Đô Thành không có khả năng trị bỏng, nhất là bỏng axít, nạn nhân sau đó đã được chuyển đến Bệnh viện Đồn Đất (Bệnh viện Nhi Đồng 2 ngày nay).

Những người bạn vũ nữ của Cẩm Nhung đến thăm, thấy cảnh sát hại dã man, đã hùn tiền lại mời luật sư bảo vệ cho Cẩm Nhung, đưa vụ việc ra pháp luật. Thế nhưng, thời ấy thế lực của “Thức công binh” và bà Năm Rađô rất mạnh ở Sài Gòn, nên tưởng như không ai làm được gì họ. Vụ việc đến tai bà Trần Lệ Xuân, vợ của Ngô Đình Nhu. Bà cố vấn vốn tính bốc đồng đã làm lớn vụ việc, làm cho cả Sài Gòn như sôi lên vì vụ đánh ghen này.

Mỗi ngày, luôn có hàng trăm người thân, bạn bè, những người hiếu kỳ tới thăm Cẩm Nhung. Có một người khách thăm đã kề tai Cẩm Nhung nói rất nhỏ, nói vừa đủ cho cô nghe: “Muốn yên thân thì hãy câm miệng, nếu cô làm lớn chuyện, “bả” sẽ giết chết cô. Trong những ngày ấy, bà vú Sọ là người suốt ngày đêm trực bên giường Cẩm Nhung. Tình cờ, bà vú Sọ phát hiện có kẻ lạ mặt rình rập cô Cẩm Nhung.

Để kiểm chứng bà giả vờ đi ra khỏi phòng bệnh để mua đồ, nhưng kỳ thực, bà nép mình ở góc hành lang để theo dõi. Kẻ lạ dã nhanh như sóc lách mình vào buồng bệnh nhân. Bà vú Sọ hốt hoảng chạy ngay trở lại phòng bệnh, vừa lúc bà thấy kẻ lạ giở tấm drap trắng đắp lên người Cẩm Nhung. Thấy bà trở vào phòng, kẻ lạ lúng túng nói là người quen tới thăm nạn nhân, sau đó lặng lẽ biến mất. Bà vú Sọ đã báo lên bệnh viện và thông báo với nhà chức trách.

Bà Trần Lệ Xuân nghe chuyện, đã chỉ đạo bệnh viện đưa Cẩm Nhung vào khu chăm sóc đặc biệt, không ai được vào thăm khi chưa có ý kiến của lãnh đạo bệnh viện. Mọi cuộc thăm viếng Cẩm Nhung sau đó đều có sự giám sát chặt chẽ của cảnh sát.

Sau vụ vũ nữ Cẩm Nhung bị đánh ghen bằng axít đến nỗi mù lòa, nhan sắc bị hủy hoại hoàn toàn, ở Sài Gòn bỗng nổi lên phong trào đánh ghen bằng axít. Suốt thời gian dài sau đó, người ta hay dọa những kẻ “giật chồng người khác” câu “muốn 1 ca axít lắm hả?”.

Trên thực tế, sau vụ vũ nữ Cẩm Nhung bị nạn, chỉ trong năm 1964 đã có hàng chục ca thanh toán nhau bằng axít được đưa đến các bệnh viện Sài Gòn, hầu hết là do đánh ghen. Dù vậy, các thế hệ sau đều thua cú ra tay dữ dội của bà Năm Rađô. Vụ tạt axít vũ nữ Cẩm Nhung mở màn cho “phong trào” đánh ghen bằng axít ở Sài Gòn, cũng là vụ đánh ghen tàn bạo nhất được ghi nhận ở đất Sài thành cho đến ngày nay.

Khi bà Trần Lệ Xuân vào cuộc

Bà Trần Lệ Xuân trả lời phỏng vấn

Bà Trần Lệ Xuân trả lời phỏng vấn

Khi vụ tạt axít xảy ra, bà Trần Lệ Xuân đang ở nước ngoài, nhưng cũng biết được vụ việc qua báo chí. Một tuần lễ sau bà về tới Sài Gòn, việc đầu tiên là bà chỉ đạo Nha An ninh phải vào cuộc, xử thật nặng những kẻ gây ra tội ác.

Đích thân Trần Lệ Xuân cũng tới thăm Cẩm Nhung, rồi thu xếp đưa cô đi nước ngoài chữa trị, nhưng tất cả đều vô ích, không gì có thể cứu vớt cuộc đời cô vũ nữ.

Không chỉ ra lệnh bắt xử những kẻ tạt axít, bà Lệ Xuân còn chỉ đạo cho ngừng hoạt động tất cả các vũ trường, vì theo bà đó là nguồn gốc của ăn chơi sa đọa, tan nát gia đình và tội ác.

Bà ra lệnh cho kiểm tra tất cả các tướng tá Sài Gòn xem ai có vợ nhỏ phải kỷ luật, hạ cấp hoặc loại khỏi quân đội. Sài Gòn vốn sôi động về đêm, những ngày sau đó trở nên đìu hiu khi mà hàng trăm vũ trường nhộn nhịp phải đóng cửa theo lệnh của bà cố vấn.

Các tướng tá Sài Gòn thì khỏi phải nói, chạy lo đủ kiểu để không bị phát hiện là có vợ nhỏ. Sau giờ làm việc, các đấng phu quân ở Sài Gòn chạy thẳng về nhà với vợ con, để cô vợ không nổi hứng tố cáo với bà cố vấn là chồng mình đã có vợ nhỏ thì sự nghiệp nhà binh coi như đổ sông đổ biển.

Con đường công danh, sự nghiệp của Thức “công binh” cũng bỗng chốc chấm hết, bao nhiêu bổng lộc trong ngành xây dựng công trình quân sự bỗng chốc mất trắng, ông bị buộc phải giải ngũ, trở về làm dân. Một phiên tòa xét xử vụ tạt axít đã được gấp rút mở sau đó gần 3 tháng. Bà Năm Ra đô và tên du đãng tạt axít bị tuyên phạt mỗi người 20 năm tù, một tên đồng bọn khác bị phạt 15 năm tù. Thế nhưng, chỉ vài tuần sau, khi vụ án còn đang bị kháng cáo, thì chế độ Ngô Đình Diệm đã bất ngờ sụp đổ với cái chết của 2 anh em nhà họ Ngô, bà Lệ Xuân phải sống lưu vong.

Chính trường Sài Gòn sau cái chết của anh em nhà họ Ngô đã rối ren suốt mấy năm trời, không ai quan tâm đến vụ tạt axít cô vũ nữ Cẩm Nhung. Không thấy nền “đệ nhị cộng hòa” của Nguyễn Văn Thiệu đưa ra xét xử. Sau đó vợ chồng Thức “công binh” đã chia tay nhau, người chồng về quê sống ẩn dật, còn bà Năm Ra đô thì gửi thân nơi cửa Phật, có lẽ bà muốn nhờ cửa Phật từ bi gột rửa tội lỗi khủng khiếp mà bà đã gây ra.

Lại nói về Cẩm Nhung, ca axít đậm đặc đã phá hủy toàn bộ khuôn mặt của cô vũ nữ, đôi mắt của nạn nhân cũng bị phỏng rất nặng. Các bệnh viện ở Sài Gòn đều bó tay, chỉ có thể cứu được mạng sống của Cẩm Nhung, còn đôi mắt, khuôn mặt thì không thể cứu chữa.

Bà Trần Lệ Xuân đã đích thân đến bệnh viện thăm nạn nhân, trực tiếp nghe các bác sĩ trình bày tình trạng thương tật. Sau đó, vợ chồng bà Trần Lệ Xuân đã chỉ đạo cho Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa ở Nhật Bản thu xếp đón Cẩm Nhung qua Nhật Bản chữa trị thương tật.

Một ngày cuối tháng 9.1963, Cẩm Nhung được đưa lên máy bay sang Nhật Bản. Thế nhưng, nền y học của Nhật Bản cũng phải chịu thua, không thể phục hồi dung nhan và đôi mắt cô vũ nữ. Hai tháng sau, Cẩm Nhung trở về nước, lúc Sài Gòn đã đổi chủ. Bà Trần Lệ Xuân từng hứa “bảo bọc trọn đời” cho Cẩm Nhung giờ đã sống lưu vong ở nước ngoài.

Trả thù đời

Từ đỉnh cao danh vọng bỗng chốc rơi xuống tận cùng địa ngục, Cẩm Nhung trong đau khổ tuyệt vọng, đã lao vào đập phá, uống rượu, hút thuốc… Để “trả thù đời”, Cẩm Nhung sẵn sàng ngã vào lòng của bất cứ người đàn ông nào, không cần tiền bạc hay điều kiện gì. Thế nhưng, với khuôn mặt cháy xám, thẹo lồi lõm như ác quỷ, cặp mắt mờ đục lồi ra ngoài như mắt ếch, không có người đàn ông tỉnh táo nào đủ can đảm làm tình nhân của cô.

Chán chường, tức giận, Cẩm Nhung càng lặn ngụp trong rượu chè. Mẹ của Cẩm Nhung vì buồn phiền mà sinh bệnh, rồi qua đời cuối năm 1964.

Cẩm Nhung càng lao sâu vào cuộc nghiện ngập cho quên đời, tài sản sau mấy năm kiếm được trong các vũ trường và cặp bồ với hàng tá nhân tình là sĩ quan, giờ cô tha hồ đập phá. Bao nhiêu món đồ quý giá của cô cứ lần lượt ra đi, ban đầu là chiếc xe máy loại mới nhập cảng của Nhật Bản, sau đến các loại nữ trang, hột xoàn, vòng vàng… Cuối cùng, Cẩm Nhung bán nốt căn nhà với giá gần 200 lượng vàng để có tiền tiêu xài, cô và bà vú Sọ phải thuê nhà ở trọ.

Số tiền bán nhà rồi cũng cạn dần, ngày cô không còn đủ tiền để trả tiền thuê nhà cũng là ngày bà vú Sọ trung thành đổ bệnh nặng, không tiền chạy chữa, nên đã qua đời. Còn lại một mình không nơi nương tựa, không nghề nghiệp, đôi mắt mù lòa, cô vũ nữ lừng danh một thời chỉ còn biết đi ăn mày.

Ban đầu, Cẩm Nhung đi ăn xin trước chợ Bến Thành vào dịp tết năm 1969. Cô ngồi bên vệ đường, trên ngực đeo bức ảnh cô chụp chung với trung tá Trần Ngọc Thức, tay chìa ra xin lòng thương hại của người đi đường. Ban đầu người ta kéo tới xem Cẩm Nhung rất đông, cho tiền cô cũng nhiều. Có tiền, Cẩm Nhung tiếp tục nghiện ngập, đập phá.

Càng về sau, người Sài Gòn càng bớt cảm động về chuyện ăn xin của cô vũ nữ, càng ít cho tiền. Không thể ngồi xin một chỗ, Cẩm Nhung cầm gậy dò đường đi xin dọc theo đại lộ Lê Lợi, đường Tự Do, những lối đi một thời in dấu chân cô từ nhà tới vũ trường Kim Sơn. Sau đó, Cẩm Nhung phải rời khỏi khu vực trung tâm Sài Gòn, đến chợ Bình Tây, chợ Bà Chiểu, cuối cùng là ngã tư Trần Quốc Thảo – Lý Chính Thắng, trước khi cô âm thầm rời Sài Gòn hoa lệ để về miền Tây xa xôi ăn xin trên bến phà Mỹ Thuận.

Ngày ấy, khi đã mù lòa, xấu xí, phải ra đường ăn xin kiếm sống, Cẩm Nhung nhờ người quen phóng to tấm ảnh cô chụp với người tình trung tá công binh Trần Ngọc Thức để đeo trước ngực, vừa để thiên hạ xót thương mà bố thí, vừa để “trả thù đời” đối với kẻ đã tệ bạc bỏ mặc cô đau đớn, bệnh tật, nghèo khó mà không một lời hỏi han, thăm viếng. Ban đầu, sau khi Cẩm Nhung mang tấm ảnh mình và tay trung tá rất đẹp đôi trước ngực, mấy ngày sau có người lạ tới năn nỉ cô đừng trương tấm hình ấy ra nữa, bù lại họ cho cô số tiền kha khá.

Cẩm Nhung không chịu, họ cũng giật đại tấm ảnh, xong để lại trong ca ăn xin của cô một số tiền. Không chịu thua, Cẩm Nhung lại nhờ người thân phóng tấm ảnh khác để đeo, và lại bị họ giật. Sau đó, không chỉ bị giật hình ảnh, mà cô còn bị đánh đập gây thương tích, chỉ vì chuyện ôm tấm hình chụp chung với người tình cũ đi ăn xin khắp Sài Gòn.

Không sống được ở Sài Gòn, Cẩm Nhung âm thầm tìm ra bến xe Miền Tây để lên xe đò về bến phà Mỹ Thuận kiếm sống, vẫn với cái cách ngồi bên lề đường ăn xin, ngực treo tấm ảnh năm nào.

Tại đây, cô cũng bị người lạ giật tấm ảnh. Không chỉ vậy, ai đó đã nhân lúc cô đi ăn xin đã lẻn vào chỗ ở trọ, lục tung đồ đạc của cô, lấy đi tất cả hình ảnh cô chụp chung với người tình trung tá công binh. Kể từ đó, Cẩm Nhung không còn ảnh chụp chung với Thức công binh, cô lấy tấm ảnh chân dung của riêng mình treo trước ngực để đi ăn xin, người đi đường cảm thương phận bạc của cô vũ nữ mà bố thí cho ít tiền giúp cô sống qua ngày trong mù lòa, cô độc.

Sau ngày miền Nam giải phóng, Cẩm Nhung tiếp tục ăn xin trên bến phà Mỹ Thuận. Nhưng sau đó chính quyền cách mạng dẹp nạn ăn xin để ổn định trật tự xã hội, Cẩm Nhung được đưa vào trung tâm nuôi người tàn tật. Không chịu được cuộc sống gò bó trong trung tâm, người phụ nữ mù đã lén bỏ trốn về Sài Gòn tiếp tục ăn xin.

Rồi cô lại bị “thu gom”, rồi lại trốn về tận Hà Tiên. Tại đây, Cẩm Nhung lúc thì đi ăn xin quanh quẩn các ngôi chùa, khi địa phương có chiến dịch “thu gom” người ăn xin, cô xin tá túc nhà chùa để được chén cơm, manh áo, vừa quét dọn sân chùa để khuây khỏa nỗi buồn trong cuộc đời bạc bẽo hơn vôi của cô. Kể từ đó, dù tá túc trong nhà chùa hay ăn xin đó đây, Cẩm Nhung không còn đeo tấm hình “nữ hoàng vũ trường” của mình trước ngực nữa.

Trong những năm tháng Cẩm Nhung sau khi bị nạn lang thang trên khắp nẻo Sài Gòn, cũng là lúc ở Sài Gòn xuất hiện bài hát “Bài ca cho người kỹ nữ”. Các tác giả viết bài hát này vì xót thương số phận của cô vũ nữ Cẩm Nhung. Bài hát có đoạn:

Ta tiếc cho em trong cuộc đời làm người
Ta xót xa thay em là một cánh hoa rơi
Loài người vô tình giẫm nát thân em
Loài người vô tình giày xéo thân em
Loài người vô tình giết chết đời em…

Theo báo Lao Động

Categories: Mỹ nhân | Tags: | Leave a comment

Nguyễn Thành Niệm: Từ thợ sửa xe trở thành chủ rạp hát

Ngày nay, khi đi ngang qua đường Trần Hưng Đạo, Q.1, TP. Hồ Chí Minh, người ta dễ dàng nhìn thấy một rạp hát bề thế, mang tên Hưng Đạo, nhưng có lẽ ít người biết rõ quá trình hình thành của nó.

Rạp Hưng Đạo

Rạp Hưng Đạo

Vào khoảng thời gian bắt đầu nổ ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2, Sài Gòn vẫn còn khá lạc hậu, với phương tiện giao thông cá nhân chủ yếu là xe đạp. Tại góc giao thông lộ Générsle Marchand và Galliéni (Nguyễn Cư Trinh và Trần Hưng Đạo ngày nay) thường ngày vẫn có một cậu con trai khoảng 18 – 20 tuổi ngồi cặm cụi sửa vá xe đạp bên vệ đường. Thời đó người dân chính gốc thành phố còn thất nghiệp dài dài, nói chi đến những dân nhập cư từ tỉnh thành xa, do đó người ta xem việc một thanh niên sửa xe như vậy là chuyện bình thường.

Những người lui tới con đường đó, đặc biệt là những khách hàng từng đôi ba lần xe đến sửa xe ấy là một chàng trai hiền hậu, dễ thương, lại chăm chỉ, cẩn thận. Xe hư đâu sửa đó, đảm bảo chất lượng, tiền công vừa phải, đôi khi với những khách hàng già cậu ta còn tự nguyện sửa miễn phí “để làm quen”. Lâu dần, khách hàng càng lúc càng đông, thậm chí có người bị hư xe ở xa cũng ráng dẫn bộ tới, để cậu sửa. Chàng trai ấy tên là Niệm.

Một năm sau ngày ra nghề, người ta thấy chỗ bức tường phía sau lưng anh thợ sửa xe ngồi, có treo lủng lẳng vài chiếc vỏ, ruột xe đạp, cùng với một ít những phụ tùng khác. Anh giải thích “Để khi nào khách có cần thì mình thay cho tiện”. Thời đó không có chợ phụ tùng hoặc các loại phụ tùng xe được bày bán khắp nơi như ngày nay, cho nên việc phục vụ linh hoạt của cậu Niệm được bà con ủng hộ. Hai năm sau, khách hàng nhìn thấy có thêm một hai chiếc xe đạp lắp ráp hoàn chỉnh dựng ở đó. Cậu Niệm lại giới thiệu “Nhân tiện ráp sẵn, nếu bà con nào có cần thì mình nhường lại, giá phải chăng”. Tất nhiên, bởi sẵn có uy tín hàng của cậu ta ráp đến đâu bán được đến đó.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, trong lúc Sài Gòn đang hoảng loạn vì những cuộc dội bom của phi cơ đồng minh xuống thành phố, dân chúng lo chạy tránh bom, thì góc đường đó, chàng trai sửa xe vẫn cứ bám trụ với “cơ ngơi của mình, gồm 4 chiếc xe đạp vừa mới ráp, cộng với một thùng phụ tùng mới. Với cậu giữa cái chết do bom đạm và chết đói, cậu ta sợ chết đói hơn, vả lại trong đầu cậu trai nghèo này, chừng như còn nuôi một hoài bão…

Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc, cũng là lúc người ta ngạc nhiên khi thấy chàng trai đó đứng ra thuê hẳn một góc nhà (chỗ căn phố mà suốt mấy năm qua cậu ta vẫn ngồi phía trước hiên nhà để hành nghề) và khai trương bảng hiệu: “Nguyễn Thành Niệm, sửa xe và bán phụ tùng xe đạp”. Thì ra, do khéo dành dụm trong nhiều năm qua, đến lúc đó cậu ta đã có được số vốn nho nhỏ, đủ để “dựng tiệm”. Cậu tâm sự với những người quen biết “Cái nghèo nó làm cho mình phải bỏ dở chuyện học hành, mà không học thì khó bề lập thân. Bây giờ chỉ có một cách là phải chí thú làm ăn phải đi lên con đường thương mại….”. 5 năm sau, đầu thập niên 50, cả một dãy phố từ đầu đường Nguyễn Cư Trinh chạy dọc theo đường Trần Hưng Đạo, đến gần đường hẻm Nguyễn Văn Dụng, đã quy về một mối, do một người làm chủ: Nguyễn Thành Niệm!

Cậu ta trúng nghề phụ tùng xe đạp là chủ yếu, nhưng cũng phải kể đến yếu tố cần kiệm và óc nhạy bén với thị trường. Chỉ trong vòng 10 năm, từ một chàng sửa xe đạp tầm thường, Nguyễn Thành Niệm tậu được đến gần 30 căn phố mặt tiền đường Galliéni (Trần Hưng Đaọ). Có người nói, sở dĩ Nguyễn Thành Niệm mua được nhiều nhà như thế là bởi vì thời đó mọi người vừa trải qua một giai đoạn khủng hoảng do cuộc chiến tranh, bị lung lạc tinh thần, muốn bán rẻ nhà cửa để hồi hương lập nghiệp, nên giá nhà rẻ, và Niệm đã chộp đúng thời cơ.

Con đường “lập thân” của Nguyễn Thành Niệm đã mở rộng. Anh ta chuyển sang kinh đoanh đa dạng hơn, gồm cả phụ tùng xe gắn máy, xe hơi, máy móc cơ giới nói chung. Và thế là một công ty nhập khẩu phụ tùng xe, máy được hình thành. Công ty Indo – Comptoir của Nguyễn Thành Niệm cuối thập niên 50 là một trong 10 công ty xuất nhập khẩu phụ tùng xe cơ giới lớn nhất Sài Gòn có chi nhánh ở khắp miền Nam, vươn tới Nam Vang, Vientian, Pakse (Lào). Nguyễn Thành Niệm trở thành một tỷ phú.

Đầu thập niên 60, tại dãy phố góc đường Nguyễn Cư Trinh – Trần Hưng Đạo, cạnh trụ sở của công ty Nguyễn Thành Niệm, người ta thấy mọc lên một toà nhà đồ sộ với chữ hiệu trên mặt tiền rất nổi: Rạp hát Hưng Đạo. Thì ra, đúng nơi mấy chục năm trước Niệm ngồi sửa se đạp, giờ đã được dựng lên một rạp hát lớn nhất thành phố, lại do chính ông làm chủ. Có lần Nguyễn Thành Niệm đã nói với bạn bè “Cuộc đời cũng giống như một sân khấu, mình cố làm sao cho sân khấu lộng lẫy thì càng hay…”

Thượng Hồng

Categories: Đại phú gia | Tags: , , | Leave a comment

Đặng Tuyết Mai – hoa khôi Sài Gòn một thời

Đã có rất nhiều bóng hồng vây quanh Dinh Độc Lập Sài Gòn dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975, nhưng có lẽ người đàn bà đẹp nhất là Đặng Tuyết Mai – nguyên là phu nhân của “Tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ, nhân vật quyền lực thứ hai trong Phủ Đầu Rồng. 

Đặng Tuyết Mai-hoa khôi Sài Gòn một thời, cựu phu nhân Nguyễn Cao Kỳ

Đặng Tuyết Mai-hoa khôi Sài Gòn một thời, cựu phu nhân Nguyễn Cao Kỳ

“Hoa khôi Sài Gòn” Đặng Tuyết Mai một trong 4 chiêu đãi viên hàng không đầu tiên

Ngược dòng thời gian để quay về với Sài Gòn những năm 60 của thế kỷ trước. Đây là thời kỳ mà xã hội thượng lưu theo phong trào Âu – Mỹ tràn ngập phố phường, trăm hoa đua nở. Bà Tuyết Mai kể lại chuyện: sự kiện “cô Bắc kỳ nho nhỏ” Đặng Tuyết Mai trở thành một trong 4 tiếp viên đầu tiên của Hãng Air Vietnam trở thành sự kiện nổi đình nổi đám lúc bấy giờ.

Ngày đó, có quá nhiều sự lựa chọn để nổi tiếng đối với một cô gái trẻ đẹp ở tuổi 18-20 như Đặng Tuyết Mai. Được học hành tử tế, được lớn lên trong một gia đình có nề nếp gia phong. Cơ hội có khá nhiều để Tuyết Mai chuẩn bị hành trang vào đời, không phải mỗi con đường độc đạo. Làm bác sĩ, làm nghệ sĩ, du học… nơi nào cũng sẵn sàng mở cánh cửa đón nhận những cô gái trẻ đẹp, đoan trang và thông minh như cô.

Cuộc thi tuyển rất gắt gao, còn hơn cả việc tuyển diễn viên điện ảnh của Hãng phim Mỹ Vân năm 1958 làm rạng danh gương mặt minh tinh Thẩm Thúy Hằng. Cả bốn kiều nữ trúng tuyển đều là những cô gái dáng dong dỏng cao, giỏi hai ngoại ngữ Anh, Pháp và kiến thức xã hội cực kỳ phong phú, hiểu biết nhiều vấn đề trong xã hội. Tuyết Mai cho rằng, cô may mắn được cha mẹ sinh ra có chút nhan sắc và mê đọc sách từ bé nên không chút lúng túng trong phần thi ứng xử tình huống.

Ngay cả khi trúng tuyển rồi, Tuyết Mai còn phải thuyết phục bố mẹ đủ điều các cụ mới miễn cưỡng cho đi làm nghề chiêu đãi viên Hàng không. Ngày đó ngành tiếp viên Hàng không còn quá mới mẻ, trong hoàn cảnh đất nước hai miền có chiến tranh, quan niệm của xã hội phong kiến còn khá nặng nề trong nếp nghĩ của các thế hệ bố mẹ, ông bà. Khác xa thời bây giờ, được làm tiếp viên Hàng không là niềm tự hào và giấc mơ của rất nhiều cô gái trẻ đẹp.

Ngay hôm sau, cả Sài Gòn xôn xao bàn tán về 4 chiêu đãi viên đẹp như tiên giáng trần đầu tiên của Hãng Air Vietnam. Người đẹp, sự kiện nóng hổi mới lạ, tiêu chuẩn cuộc thi rất cao nhưng 4 cô gái đã về đích mỹ mãn…

Từ các quán cà phê đến các CLB không quân, người người bàn tán, bình luận. Lúc đó trên bàn viên chỉ huy không quân Nguyễn Cao Kỳ cũng có một tờ báo đưa tin về “Hoa khôi Sài Gòn Đặng Tuyết Mai” đã khiến hàm râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ co giật nhiều lần và đôi mắt cực kỳ quyến rũ của chàng nghệ sĩ không trung dán chặt vào bức ảnh cô chiêu đãi viên Hàng không là hoa khôi Đặng Tuyết Mai.

Bắt đầu một ngày mới với công việc của một chiêu đãi viên Hàng không quốc tế, Tuyết Mai phải học rất nhiều, rất cần mẫn để có thể thành thục các thao tác chuyên nghiệp trên các chuyến bay, đặc biệt trên các chuyến bay có các nguyên thủ quốc gia xuất ngoại. Nhưng khó khăn đến mấy cô cũng hoàn thành xuất sắc, bạn bè đồng nghiệp và lãnh đạo đều rất quý mến cô.

Sau những chuyến bay đường dài về, cô thường nhớ lời mẹ dặn: “Nhớ ăn học cho đàng hoàng, kiếm tấm chồng để bõ công tôi chăm lo cho cô nhé”. Có lẽ đây là một công việc hệ trọng và khó nhất của tương lai cuộc đời cô. Duyên số là do trời định. Một ngày kia, trên chuyến bay từ Manila – Phi Luật Tân về cô đã gặp “duyên tiền định” của đời mình là “Tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ.

“Mãnh thú” bầu trời và người đẹp hàng không

Đặng Tuyết Mai-đệ nhị phu nhân của Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ

Đặng Tuyết Mai-đệ nhị phu nhân của Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ

Mặc dù trở về Việt Nam, đã ly dị với “Tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ, đã tìm được hạnh phúc mới cho mình, nhưng Tuyết Mai không bao giờ nói dối lòng về mối tình đầu rất đẹp của đời bà với viên Tướng này.

Nhắc lại chuyện tình với Nguyễn Cao Kỳ, bà Tuyết Mai thổ lộ: “Đến tận bây giờ, dù tình xưa đã tắt nhưng tôi vẫn còn nhớ anh Kỳ có đôi mắt rất đàn ông. Người đàn bà nào nhìn vào cũng sụm chân run rẩy. Tôi cũng từng ngụp lặn trong ánh mắt ấy. Ở anh Kỳ có nét  phong trần, phóng khoáng, ngang tàng, nhưng đầy nghệ sĩ”.

Những kỷ niệm tình yêu đầu tiên bao giờ cũng tinh khôi và rất đẹp. Có người cho rằng tình đầu không phải tình yêu, nhưng tất cả những mối tình về sau đều là biến dạng của mối tình đầu. Tuyết Mai đã yêu người đàn ông lịch lãm có hàm râu kẽm rất đàn ông và nghệ sĩ ngay cái nhìn đầu tiên. Cô đã viết trong hồi ký cho con gái Nguyễn Cao Kỳ Duyên về lần gặp gỡ rất đẹp, lãng mạn ấy.

Cho đến thời điểm tháng  9/1964, Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã qua một đời vợ người Pháp, có 5 người con riêng. Còn Tuyết Mai chỉ có trái tim yêu và yêu, đúng hơn chi là những tình cảm lãng mạn vu vơ tuổi học trò, tuổi mới vào đời nên khoảng trống ấy của trái tim Tuyết Mai đã bị Tướng Kỳ – “một nghệ sĩ giang hồ, một mãnh tướng” trên bầu trời và trên tình trường phát hiện từ cuộc gặp gỡ đầu tiên trên chuyến bay Manila về. Và cơ hội gặp lại trong lần sang Bangkok cũng do Tướng Kỳ sắp đặt, điều động để cơ hội gần hơn, rút ngắn khoảng cách hai trái tim.

Không ai lạ gì, Tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ là một tướng ngông, ngang tàng chẳng vị nể ai. Hàng ngày đi làm ông vẫn dùng trực thăng bay từ nhà riêng trong Bộ Tổng Tham mưu đáp xuống bãi cỏ trong Dinh Độc lập. Chưa kể có nhiều lần Tướng Kỳ đậu trên nóc Dinh ngay phía dưới phòng ngủ của vợ chồng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khiến bà Mai Anh phiền hà lên tiếng.

Cũng không ai lạ gì việc đi thăm, làm việc của Tướng Kỳ với các lực lượng không quân trong phạm vi miền Nam thời kỳ đó, Nguyễn Cao Kỳ đều sử dụng máy bay riêng tự mình lái, thay vì đi ô tô, không an toàn.

Tuyết Mai gặp Tướng Kỳ trên chuyến bay định mệnh từ Manila về Việt Nam. Nguyện vọng đầu tiên của Tuyết Mai là nhờ ông can thiệp để cấp dưới của ông không quấy rối, vì người này đang theo đuổi cô khá cuồng nhiệt. Do cự tuyệt, nên Tuyết Mai đã gặp khá nhiều rắc rối từ người đàn ông này. Vì còn trẻ, còn nhiều tương lai hứa hẹn, cô thật sự hoang mang về sự tán tỉnh, đeo đuổi thái quá của một người đàn ông cấp dưới của Tướng Kỳ.

Sau lần gặp gỡ đó, Tướng Kỳ mời Tuyết Mai đến dự một buổi dạ vũ và căn dặn: “Đêm nay là một đêm đặc biệt, nên tôi yêu cầu người đẹp hãy đặc biệt dễ thương”. Tiệc gần tàn, ông hỏi: “Cô thấy thế nào?”. Tuyết Mai bình thản trả lời: “Vì Thiếu tướng có nêu tính chất đặc biệt của buổi tối nay nên tôi vui vẻ. Nhưng ngày mai không còn là tối hôm nay nữa. Và sự khác biệt của chúng ta không thể nào giải quyết được”.

Ba tuần sau, có lệnh yêu cầu đặc biệt cô Mai đi phục vụ chuyến bay phục vụ đoàn sĩ quan cao cấp Không quân sang Bangkok một tuần lễ tham dự các hoạt động giao lưu, tiếp kiến nhà vua Thái Lan, nhận huân chương danh dự của Không quân Hoàng gia Thái Lan… Trưởng phái đoàn Việt Nam không ai khác: Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Có một cuộc gặp tại phòng ăn khách sạn nơi cả đoàn tá túc, nhiều sĩ quan không quân đã chân tình mời Tuyết Mai ăn chung với anh em, cô khéo léo từ chối vì đã có cuộc hẹn với Smith – Giám đốc Hãng Hàng không B.O.A.C ở Bangkok.

Nhưng định mệnh và ánh mắt đặc biệt của Tướng Kỳ đã làm cô thay đổi quyết định, nhận lời đi cùng xe với Tướng Kỳ làm bộ hướng dẫn đi loanh quanh mua quà. Cả thời gian trên xe, dường như không ai nói được gì nhiều, trái tim của Tuyết Mai như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, như muốn vỡ ra vì tiếng sét ái tình.

Tuyết Mai kể lại, chỉ mỗi câu nói cửa miệng : “Buồn chi lạ” của Tướng Kỳ, đã khiến cô trằn trọc, mơ màng suốt đêm không ngủ được.  Cô đã nhận bó hoa tươi và từ chối một cách lịch sự  người đàn ông xứ sương mù trước mặt các sĩ quan không quân, đang hăm hở lịch thiệp đến đón cô đi dạo cho thỏa lòng mong nhớ từ lâu nay theo đuổi mối tình bóng chim tăm cá.

Cô biết mình đã yêu và thích người đàn ông có hàm râu kẽm kia, chẳng phải vì ông ta là người có quyền lực hay tiền bạc kếch sù. Trái tim có lý lẽ riêng của nó, những lý lẽ mà không dễ gì con người xác định được cân lượng. Với một thiếu nữ đầy kiêu hãnh của tuổi hai mươi, nhan sắc tuyệt vời như Tuyết Mai, thật khó mà biết cô chọn lựa tình yêu bắt đầu từ đâu ngoài sự say đắm, bất chợt.

Cả đêm không ngủ, Tuyết Mai thức dậy trang điểm xong, chờ giờ hẹn với Smith đã khước từ một lần. Nhưng tự nhiên bước chân đưa cô đến bên cửa ban công nhìn xuống dưới sân khách sạn. Cô biết lịch trình các sĩ quan không quân hôm nay, cô đang muốn chờ đợi để ngắm một con người mà cả đêm làm cô thổn thức. Tại sao thế, cô không biết. Con gái thích âm thầm nhìn ngắm người mình yêu mà không cần giải thích vì sao.

Bất chợt có tiếng gõ cửa phòng, cô thừa biết nhân viên lễ tân đến giờ mang bữa điểm tâm phục vụ, cô thờ ơ bảo để đó mắt không rời các sĩ quan không quân tụ tập dưới sân chờ giờ lên xe đi. Tuyết Mai quay lại mở cửa…

Trước mắt cô không phải là nhân viên lễ tân khách sạn bình thường, mà là Tướng Kỳ, trong quân phục Đại lễ của Không quân, áo mũ chỉnh tề, huy chương đeo đầy ngực, đeo kiếm ngắn bên hông trìu mến nói : “Chúc cô Mai ngon miệng nhé”. Tuyết Mai như một người bị thôi miên, đứng chết trân như trời trồng mà không thể mở miệng nói gì được nữa.

Xúc động dâng trào lẫn hạnh phúc, Tuyết Mai mới hoàn hồn lại nói lí nhí mấy lời đúng kiểu cách của một chiêu đãi viên hàng không: “Thưa Thiếu tướng, trong tất cả hình ảnh đẹp và hào hoa nhất về Không quân, dường như hình ảnh một người chỉ huy trang phục chỉnh tề, bê khay đồ ăn là có ý nghĩa nhất. Cảm ơn Thiếu tướng, hình ảnh này mãi mãi không phai mờ trong ký ức của em..”. Nghe xong những lời từ trái tim người đẹp, Tướng Kỳ suốt cả ngày hôm ấy lâng lâng cảm xúc nồng nàn của một tình yêu từ rất lâu rồi ông chưa nghe trái tim mình mách bảo như thế. Đó là người ông đã yêu thật sự.

Đặng Tuyết Mai cùng Nguyễn Cao Kỳ trả lời trước báo giới

Đặng Tuyết Mai cùng Nguyễn Cao Kỳ trả lời trước báo giới

Dùng trực thăng đến nơi hẹn hò để ngỏ lời cầu hôn

Bà Tuyết Mai (thứ 2 từ phải qua) cùng phu nhân Tổng thống Mỹ, Philippines

Bà Tuyết Mai (thứ 2 từ phải qua) cùng phu nhân Tổng thống Mỹ, Philippines

Trong hồi ký của mình, Tướng Kỳ đã viết : “Trong những ngày cuồng nhiệt của nhóm tướng trẻ, tôi không chỉ dính líu vào những cuộc đảo chính và bận bịu với công cuộc tác chiến của không quân mà tôi còn đem lòng yêu thương một người nữa.

Cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi với một phụ nữ Pháp – và chúng tôi đã có 5 đứa con với nhau – đã kết thúc bằng sự ly thân và tiếp theo đó chúng tôi đã ly dị. Sau khi ly dị với vợ tôi, theo lời của một nhà báo, tôi đã hưởng được “hai năm hết sức sôi động của một người có số đào hoa”.

Có lẽ tôi không cần phải đính chính là sự nhận xét trên đã được phóng đại như thế nào và thực ra tôi cũng đã vui chơi nhiều và thoải mái trong lúc bấy giờ bởi vì tất cả chúng tôi đều không biết sống chết ngày nào và cần phải sống vội khi mình được sống”.

Cuộc đời của Tướng Kỳ cũng khá nhiều sóng gió về tình duyện. Khoảng năm 1962, ông chia tay với bà vợ người Pháp sau khi đã có với nhau 5 người con. Trong hai năm trước ngày cưới Tuyết Mai, Tướng Kỳ chán đời nên thường lao vào những cuộc ăn chơi, giải trí sau những giờ căng thẳng công việc. Hơn nữa, Sài Gòn vào những năm cuối đời Ngô Đình Diệm rất phức tạp, rối ren. Các phe cánh đang tranh giành quyền lực, Kỳ được yên bề vì nắm giữ Không quân, nên mọi đối thủ đều rất dè dặt về con người hào phóng, ngang tàng rất máu nghệ sĩ này.

Về phần Tuyết Mai, sau khi trở về nhà. Hôm sau thức giấc, Tuyết Mai được người nhà cho biết sáng sớm có một viên sĩ quan đến nhà gửi tặng hoa hồng phấn – loài hoa mà cô yêu thích nhất cùng một bì thơ. Linh tính mách bảo cô rằng khong ai khác, chính “Tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ.

Trong thư, Tướng Kỳ ngỏ lời mời Tuyết Mai ăn cơm trưa tại nhà hàng Caravelle với “hi vọng những bông hồng này sẽ đem lại chút hạnh phúc nhỏ bé khi đánh thức cô dậy”.

Lúc đầu Tuyết Mai có hàng ngàn ký do để từ chối, nhưng suy nghĩ đắn đo hồi lâu,cuối cùng trái tim mách bảo cô, hãy giả vờ từ chối thôi, và cô nhận lời tự đến nơi hẹn mà không cần đưa đón. Tướng Kỳ cười sáng khoái: “Cô Mai không phải lo.Tôi đến nơi hẹn bằng máy bay. Chúng ta gặp nhau tại cửa thang máy phòng ăn riêng không có ai trên thế gian này nhìn thấy đâu”.

Tuyết Mai trang điểm nhẹ nhàng, cô muốn giữ những nét thật nhất trên khuôn mặt, làn da và sự tươi trẻ hồn nhiên để đến nơi hẹn nhân tình. Tướng Kỳ đã đậu trực thăng trên nóc khách sạn, ngồi đợi cô trong phòng ăn đặc biệt khá lâu.

Giữa không gian ấm cúng và lý tưởng có một không hai của đất Sài Gòn, nơi phóng tầm mắt nhìn thấy bốn phía hòn Ngọc Viễn Đông, men rượu vang tê tái đầu lưỡi và tiếng nhạc thính phòng du dương, Tướng Kỳ đã ngỏ lời cầu hôn Tuyết Mai.

Sau này nhớ lại, cô không thể diễn tả được cảm giác rất đặc biệt và thiêng liêng khi ấy. Cảm giác ấm nóng của bàn tay, làn môi hay lời nói nồng nàn, đa tình của viên tướng cao bồi đã làm cô say đắm vì hạnh phúc.

Bà mẹ Tuyết Mai từng dạy dỗ, mong con gái có tấm chồng đàng hoàng, tử tế đã quyết liệt phản đối cuộc tình của Tuyết Mai. Nhưng đối với Tuyết Mai, việc chênh lệch về tuổi tác, việc lấy chồng đã qua một đời vợ với 5 con riêng không phải là những khó khăn ngăn cản cô bảo vệ tình yêu say đắm và nắm giữ hạnh phúc đời mình.. Chỉ riêng việc nài nỉ, thuyết phục mẹ, Tuyết Mai đã mất khá nhiều nước mắt và sụt cân.

Đám cưới của “Tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ và cô chiêu đãi viên Hàng không Air Vietnam tổ chức tại khách sạn Caravelle vào thàng 11/1964 được coi là sự kiện tâm điểm của báo giới và dư luận Sài Gòn khi ấy. Một đám cưới tổ chức lớn nhất, đông đúc khách mời nhất và tốn kém nhất.

Để chúc mừng hạnh phúc cho Tướng Kỳ, Thủ tướng đương nhiệm Trần Văn Hương đã gởi tặng một món quà là 200.000 đồng tiền mặt, theo Kỳ số tiền ấy cho phép trang trải đầy đủ phí tổn của tiệc cưới tại nhà hàng Caravelle mà “ai ai” quen biết cũng đều được mời dự – trong đó có cả Ngoại giao đoàn và hầu hết bạn bè thân thiết của Kỳ trong lực lượng không quân.

Tướng Kỳ kể lại: “Tướng Nguyễn Khánh đã cho tôi một món quà lộng lẫy – một chiếc xe Ford Falcon cũ, kiểu năm 1960 mà Khánh không dùng nữa vì Khánh đã có một chiếc xe hơi khác của nhà nước. Đây là chiếc xe hơi đầu tiên mà tôi được làm chủ từ trước tới giờ (mãi cho đến lúc đó tôi chỉ luôn luôn lái chiếc xe díp của quân đội cấp cho)”.

Thế là từ đấy, cô tiếp viên hàng không hoa khôi Sài Gòn nhí nhảnh hồn nhiên yêu đời trở thành “Bà Kỳ”, một bước có kẻ hầu, người hạ. Cũng từ ấy, cô dã từ những chuyến bay của Air Vietnam vì mỗi lần bay, tốp cận vệ luôn kè kè bảo vệ, giã từ mọi thứ đam mê thời con gái để học làm “đệ nhị phu nhân” của Việt Nam Cộng hòa.

Cưới nhau xong, tuần trăng mật vẫn còn vương vấn nồng nàn chưa tan, cũng là lúc Hội đồng tướng lĩnh họp lại đồng thuận để Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ tướng, thành lập nội các mới sau vụ ám sát Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu. Tướng Kỳ từ chối mãi không được, cuối cùng đồng ý với điều kiện “tôi phải xin phép vợ tôi đã”.

Và Kỳ về nói với Tuyết Mai: “Phản ứng đầu tiên của vợ tôi là “không được” (không được làm Thủ tướng)”. Lý do? Tướng Kỳ viết: “Vì lúc ấy chúng tôi là cặp vợ chồng mới cưới, chúng tôi không muốn dính líu đến các mưu đồ chính trị. Tuy nhiên, sau khi tôi giải thích cho vợ tôi nghe các sự việc đã xảy ra (về cuộc họp và sự ủng hộ cuồng nhiệt của các tướng lĩnh), vợ tôi đã hiểu và đồng ý với việc tôi quyết định đứng ra thành lập chính phủ. Ngày hôm sau, tôi trở lại phòng họp của Hội đồng Quân lực để xác nhận quyết định này của tôi”.

Dù làm Thủ tướng, nhưng Tướng Nguyễn Cao Kỳ vẫn tiếp tục ở trong căn cứ không quân như cũ, thay vì chuyển đến một khu công thự dành cho mình theo cương vị mới, đó là một nhà lầu ba tầng cách Dinh Độc Lập không xa, khá thuận tiện. Song ông chỉ dùng nơi ấy làm văn phòng, tại đó có sẵn bếp, người phục dịch và phòng ngủ để ông có thể chiêu đãi, hoặc ngủ lại khi công vụ bề bộn.

Tính đến nay, Tướng Kỳ đã có có 3 người vợ, với 6 người con: người vợ đầu là người quốc tịch Pháp, có với ông 5 người con. Khoảng năm 1962, ông đã làm thủ tục ly dị bà vợ này.

Người vợ thứ 2 là bà Đặng Tuyết Mai, ông Kỳ cùng bà Tuyết Mai sinh được duy nhất một người con gái là M.C Nguyễn Cao Kỳ Duyên.

Cho đến 11 năm sau vào ngày 28/4/1975, hai mẹ con di tản sang Mỹ, lúc đó Kỳ Duyên mới 6 tuổi. Còn Tướng Kỳ, ngày 29/4/1975 một mình lái trực thăng bay ra hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đậu ngoài khơi đón người di tản, sang Philippines một thời gian… Họ thất lạc nhau.

Khi tìm gặp lại nhau nơi đất khách quê người với nhiều đổi thay dâu bể của thời cuộc, họ đã chia tay nhau sau 25 năm chung sống với cô con gái chung là Nguyễn Cao Kỳ Duyên.

Người vợ thứ 3, hiện đang sống cùng ông Kỳ có tên là Lê Kim. Còn bà Tuyết Mai hiện đã trở về Việt Nam làm ăn, sinh sống. Hiện bà đang mở một quán phở có tên Phở Ta, tại số 12-14, Lê Quý Đôn, Q3.

 Nam Yên

Categories: Mỹ nhân, Nhân vật | Leave a comment

“Nhất Sỹ” Lê Phát Đạt và gia tộc giàu hơn Bảo Đại

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở Sài Gòn nổi lên tứ đại hào phú lẫy lừng: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định”. Bốn đại gia này không chỉ giàu có nhất đất Sài Gòn mà còn là những người giàu nhất Nam Kỳ lục tỉnh và xứ Đông Dương. Gắn liền với tên tuổi của bốn đại gia này là những giai thoại về sự giàu có đáng kinh ngạc…

Trong số đó, “Nhất Sỹ”  – Lê Phát Đạt, ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu là người giàu có bậc nhất, hiện vẫn được lưu danh cùng với công trình chứng minh cho khối tài sản khổng lồ của mình là nhà thờ Huyện Sỹ.

Huyện Sỹ có tên thật là Lê Phát Đạt. Ông sinh năm 1841 tại Cầu Kho, Sài Gòn. Tuy nhiên, quê quán ở Tân An, Long An trong một gia đình theo Công giáo. Thuở nhỏ, ông có tên là Sỹ và tên thánh là Philipphê.

Ông được các tu sỹ người Pháp đưa sang du học ở Pénang, Malaysia. Ở đây, ông Sỹ được học các ngôn ngữ: như tiếng La Tinh, tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Quốc ngữ.

Nhà thờ Huyện Sĩ

Nhà thờ Huyện Sĩ

Mặc dù đã đổi tên nhưng bà con lối xóm vẫn gọi ông bằng cái tên cúng cơm là Sỹ. Cũng bởi vậy, cái tên Huyện Sỹ Lê Phát Đạt đã gắn bó với số phận của ông. Mặc dù xuất thân trong một gia đình không quá giàu có nhưng đến đời của Lê Phát Đạt thì ông đã nhanh chóng trở thành người giàu có bậc nhất đất Sài Gòn.Do tên của ông trùng tên với một người thầy dạy nên người thầy đã đổi tên Sỹ đổi tên thành Lê Phát Đạt. Khi về nước, ông Lê Phát Đạt được Chính phủ Nam Kỳ bổ dụng làm thông ngôn, rồi từ năm 1880 thì làm Ủy viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ.

Theo học giả Vương Hồng Sển trong cuốn sách “Sài Gòn năm xưa” thì việc phất lên nhanh chóng của ông Lê Phát Đạt có không ít yếu tố may mắn: “Tương truyền buổi đầu, Tây mới qua, dân cư tản mác. Pháp phát mãi ruộng đất vô thừa nhận, giá bán rẻ mạt mà vẫn không có người đầu giá”.

Học giả Vương Hồng Sến giải thích là: “Hồi Tây qua, nghe nói lại, những chủ cũ đều đồng hè bỏ đất, không nhìn nhận, vì nhận e nỗi quan và triều đình Huế khép tội theo Pháp.

Vả lại, cũng ước ao một ngày kia Tây bại trận rút lui. Chừng đó ai về chỗ nấy, hấp tấp làm chi cho mang tội… Không dè bởi đất không ai nhìn, nên Pháp lập Hội đồng Thành phố, Ủy ban Điền thổ rồi đưa nhau đi khám xét từng vùng.

Đến chỗ nào địa thế tốt, thì những ủy viên bản xứ nhận là của mình: “Ùy” một tiếng! Đến chỗ nào nẻ địa thì lắc đầu, tiếp theo nói “Nông” cũng một tiếng! Chung quy chỉ học hai tiếng “Ùy”, “Nông” mà có ông Lê Phát Đạt lập nghiệp truyền tử lưu tôn.

Trận bão năm Giáp Thìn, tức năm 1904, đất Gò Công bỏ hoang vô số kể, ai đủ can đảm chịu ra mặt đóng thuế thì làm chủ chính thức, mà có ai thèm đâu…”.

Thế rồi, nài ép Lê Phát Đạt, ông bất đắc dĩ phải chạy bạc mua liều. Nào ngờ vận đỏ, ruộng trúng mùa liên tiếp mấy năm liền. Ông trở nên giàu có nhanh chóng. Mặc dù giàu có như vậy, nhưng trong nhà ông Lê Phát Đạt có treo câu đối dạy đời: “Cần dữ kiệm, trị gia thượng sách/Nhẫn nhi hòa, xử thế lương đồ”.

Bên cạnh đó, cũng có những lời đồn rằng ngôi nhà lầu đồ sộ của Huyện Sỹ tại Tân An, nằm gần ngã ba sông Tân An và Bảo Định đã được cất trên thế đất hàm rồng nên gia đình ông trở nên giàu có, danh vọng bậc nhất thời đó.

Sự giàu có của ông Huyện Sỹ được mô tả rằng: khi đang xây nhà thờ Chợ Đũi, chính là nhà thờ Huyện Sỹ theo yêu cầu của giáo dân vùng Bảy Hiền, người ta đã cắt bớt một gian giữa của nhà thờ này để lấy tiền đó xây nhà thờ Chí Hòa.

Hay người con trai của Huyện Sỹ là kỹ sư Lê Phát Thanh cũng bỏ tiền ra xây nhà thờ Hạnh Thông Tây, nằm ở góc Quang Trung – Lê Văn Thọ, Gò Vấp. Tất cả những ngôi nhà thờ này đều xây trên đất của Huyện Sỹ.

Ngày nay, nếu đi bằng xe máy từ nhà thờ Huyện Sỹ đến nhà thờ Hạnh Thông Tây phải mất gần một tiếng, đủ thấy vùng đất của Huyện Sỹ mênh mông chừng nào.

Không chỉ có thế, các con của Huyện Sỹ như bà Lê Thị Bính – mẹ của Nam Phương hoàng hậu, Lê Phát Thanh, Lê Phát Vĩnh, Lê Phát Tân đều là những đại điền chủ có rất nhiều đất đai ở Tân An, Đức Hòa, Đức Huệ và Đồng Tháp Mười.

Riêng trưởng nam của Huyện Sỹ là Lê Phát An được vua Bảo Đại phong tước An Định Vương. Ông Lê Phát An là người duy nhất trong lịch sử Nam Kỳ thuộc hàng dân dã, không là “hoàng thân, quốc thích” được lên ngôi vị cao quý nhất của triều đình.

Mức độ giàu có của gia đình Huyện Sỹ còn được đồn thổi là lớn hơn rất nhiều lần so với vua Bảo Đại. Vậy nên, mới có câu chuyện là vào năm 1934, nhân dịp gả cô cháu gái Nguyễn Hữu Thị Lan, tức Nam Phương Hoàng Hậu về Huế làm Hoàng hậu, Lê Phát An đã tặng cho Nguyễn Hữu Thị Lan một triệu đồng tiền mặt để làm của hồi môn.

Nếu quy đổi thì 1 triệu đồng lúc bấy giờ có giá vàng khoảng 50 đồng/lượng. Vậy nên món quà này tương đương 20.000 lượng vàng. Gia đình Nguyễn Hữu Hào, cha của Nam Phương hoàng hậu, rể của Huyện Sỹ cũng giàu có hơn Bảo Đại.

Trong đời làm vua của mình, vị hoàng đế thích ăn chơi Bảo Đại thường dùng tiền của vợ nhiều hơn của hoàng gia.

Sự giàu có của Huyện Sỹ Lê Phát Đạt cho đến nay vẫn còn lưu danh và đặc biệt là thể hiện một cách rõ nét qua các công trình xây dựng còn lại. Một trong số đó chính là nhà thờ Huyện Sỹ. Ngôi nhà thờ này đã được ông Huyện Sỹ hiến đất và xuất 1/7 gia tài để xây dựng.

Tính theo thời giá lúc bấy giờ là khoảng trên 30 ngàn đồng bạc Đông Dương. Nhà thờ được khởi công xây dựng năm 1902 theo thiết kế của linh mục Bouttier.

Đến năm 1905 thì nhà thờ được khánh thành. Nhà thờ tọa lạc trên một khu đất cao và rộng hơn một mẫu, nằm ở góc đường Frère Louis, nay là đường Nguyễn Trãi và Frère Guilleraut, nay là đường Tôn Thất Tùng.

Ban đầu nhà thờ có tên là Nhà thờ Chợ Đũi do thuộc họ đạo Chợ Đũi. Mặt khác, do Thánh Philípphê tông đồ là bổn mạng của Huyện Sỹ nên còn được gọi là Nhà thờ Thánh Philípphê. Tuy vậy, dân gian vẫn gọi là Nhà thờ Huyện Sỹ.

Và sau đó dần trở thành tên chính thức của nhà thờ này. Nhà thờ Huyện Sỹ được đánh giá là có khuôn viên rộng rãi khoáng đãng nhất ở Sài Gòn. Phía trước nhà thờ có tượng đài thánh tử đạo Việt Nam là Mátthêu Lê Văn Gẫm.

Gần cổng chính còn có đài thiên thần hộ thủ và tượng đài Thánh Giuse. Bên trái khuôn viên là núi Đức Mẹ Lộ Đức, được xây dựng năm 1960 để kính Đức Mẹ Lộ Đức.

Hằng năm cứ vào ngày 11 tháng 2 dương lịch, các linh mục chính xứ Chợ Đũi có thói quen cử hành thánh lễ tại núi này để cầu nguyện đặc biệt cho các bệnh nhân. Phía bên phải khuôn viên nhà thờ là đồi Canvê, có tượng chuộc tội rất lớn được xây dựng năm 1974 dưới thời linh mục Gioan Baotixita Dương Hoàng Thanh.

Nhà thờ có chiều dài 40 m, chia làm 4 gian, rộng 18 m. Thiết kế ban đầu của nhà thờ Huyện Sỹ gồm 5 gian, tức khoảng 50 m. Nhưng thời gian đó, nhà thờ tạm Chí Hòa bị hư hại trầm trọng.

Vì vậy, giới chức trong họ đạo Chợ Đũi đã xin cắt bớt một gian, dùng số tiền đó để xây nhà thờ Chí Hòa. Nhà thờ Huyện Sỹ dùng đá Granite Biên Hòa để ốp mặt tiền và các cột chính điện, theo phong cách kiến trúc Gothic. Chính điện nhà thờ có vòm chịu lực dạng cung nhọn.

Tường có nhiều cửa sổ dạng vòm đỉnh nhọn và được trang trí bằng lớp kính màu ghép hình mua từ Ý. Bên trong các gian tường có nhiều tượng thánh. Trên vòm cửa chính có tượng thánh Philípphê bổn mạng nhà thờ bằng đá Cẩm Thạch, đứng cầm cây thánh giá Phục sinh.

Ngọn tháp chuông chính cao 57 m kể cả chiều cao thánh giá và con gà trống Gaulois. Bên trong tháp có bốn quả chuông được đặt đúc tại Pháp năm 1905.

Hai quả lớn có đường kính 1,05 m do con trai và con dâu Huyện Sỹ là ông Gioan Baotixita Lê Phát Thanh và bà Anna Đỗ Thị Thao tặng. Hai quả chuông nhỏ đường kính 0,95 m không ghi tên người tặng, có lẽ là của ông bà Huyện Sỹ đặt đúc cùng năm.

Ông huyện Sỹ qua đời năm 1900 khi nhà thờ chưa xây dựng xong. Về sau khi vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài mất năm 1920, người ta mới đưa hai ông bà chôn ở gian chái sau cung thánh của nhà thờ này.

Tại gian chái bên trái là tượng bán thân ông Huyện Sỹ bằng thạch cao gắn cột đầu, phía sau là phần mộ bằng đá Cẩm Thạch được trang trí hoa văn.

Trên mộ là tượng toàn thân ông Huyện Sỹ kê đầu trên hai chiếc gối bằng đá Cẩm Thạch được điêu khắc tinh xảo, đầu chít khăn đóng quay về cung thánh nhà thờ, mình mặc áo dài gấm hoa văn tinh xảo, hai tay đan vào nhau trước ngực, chân đi giày.

Đối diện bên phải là tượng vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài với tóc búi cũng dựa trên hai chiếc gối, hai tay nắm trước ngực, mặc áo dài gấm, chân mang hài.

Phía trong cùng còn có tượng bán thân của con trai và con dâu ông bà là Gioan Baotixita Lê Phát Thanh và Anna Đỗ Thị Thao. Cho đến nay, công trình này vẫn được xem là một điểm đến thu hút khách du lịch muốn tìm hiểu về cuộc đời của đại gia giàu có bậc nhất đất Sài Gòn xưa.

Đinh Minh

Categories: Đại phú gia | Tags: , | Leave a comment

Những hoa hậu đầu tiên của đất Sài Gòn xưa

Có rất nhiều tài liệu nói về ai là hoa hậu đầu tiên của đất Sài Gòn, và cuộc thi hoa hậu ấy được mở vào năm nào, ở đâu. Tôi không dám khẳng  định ai là hoa hậu đầu tiên trên đất Sài Gòn, nên ở đây chỉ kể về tất cả những người đẹp được cho là những hoa hậu đầu tiên của đất Sài Gon – Gia Định:

1. NGUYỄN THỊ LIỄU:

Có một vài sự khẳng định không giống nhau về năm tháng của sự việc. Có người nói cuộc thi hoa hậu đầu tiên mở tại Sài Gòn vào năm 1937 , nhưng người khác khẳng định cái mốc “đầu tiên” ấy lùi rất xa vào năm 1864 (cách đây những 146 năm)! Lại cũng có người bảo vào năm 1865! Người thì nhớ mang máng “đâu vào thời… Ngô Đình Diệm!”.

Có tài  liệu cho rằng cuộc thi hoa hậu đầu tiên đã diễn ra tại vườn Ông Thượng tức vườn Tao Đàn hiện thuộc địa bàn quận 1, TP.HCM vào năm nói trên. Đứng ra tổ chức cuộc thi (gọi theo tiếng Pháp là Concours élégantSaigon) là một nhóm công chức với sự kết hợp và hỗ trợ của một số nhà kinh doanh lúc bấy giờ đang hoạt động ở Sài Gòn.

Tuy mở trên đất “Bến Nghé xưa” song phạm vi “tuyển sinh” lan đến tận những vùng xa hơn, đến các thành phố và nông thôn ngoại vi Sài Gòn, nên đã có 19 cô gái vừa là “dân Bến Nghé” vừa là hoa khôi ở lục tỉnh được chọn để bước vào tầm ngắm của làng đẹp xứ ta. Nói “xứ ta” vì có người bảo rằng đây không những là cuộc thi hoa hậu đầu tiên của Sài Gòn, của Nam Bộ, mà của cả ViệtNam nữa. Một trong những đặc điểm cuộc thi là thí sinh mặc toàn áo dài ViệtNam do nhà may Phúc Thịnh thiết kế có lẽ theo mẫu mã thời thượng lúc ấy. Vải may áo thì do ông Lê Trương Biểu sản xuất và cung cấp. Có nghĩa là cuộc thi hoa hậu này từ người đẹp đến trang phục đều là nội hóa “rất ViệtNam”. Kết quả, người đẹp được nhận danh hiệu hoa hậu đầu tiên vào năm 1937 là cô gái 25 tuổi tên là Nguyễn Thị Liễu, và cuộc thi hoa hậu này còn có tên Concours Elegant Saigon (thi tuyển người lịch sự Sài gòn) vào năm 1937.

Nguyễn Thị Liễu sinh năm 1912, quê ở Hóc Môn. Nguyễn Thị Liễu lấy chồng năm 17 tuổi nhưng chỉ được 6 tháng thì chồng cô vắn số qua đời, cô hoa hậu bất đắc dĩ sống cuộc đời góa bụa. Đến nay vẫn chưa tìm thấy chân dung của hoa hậu Nguyễn Thị Liễu.

2. CÔ BA XÀ BÔNG:

Chân dung "Cô Ba Xà Bông"

Chân dung “Cô Ba Xà Bông”

Đứng hàng đầu trong danh sách những người đẹp vang bóng trên đất Sài Gòn vào cuối thế kỷ 19 và những thập niên đầu thế kỷ 20 phải kể đến “cô Ba Xà Bông”

Có tài liệu cho rằng cuộc thi hoa hậu đầu tiên ở Việt Namdo người ViệtNamtổ chức thì  vào năm 1865 và mang tên cuộc thi Miss Sài Gòn dành riêng cho các người đẹp ViệtNam. Lần này điều lệ được phổ biến không chỉ ở phạm vi Sài Gòn mà còn lan ra nhiều vùng phụ cận nên sau đó đã có gần 100 cô gái đăng ký dự thi với kết quả người đoạt vương miện Hoa hậu “là cô Ba, con gái của ông Chánh, làm nghề thư ký. Trước vẻ đẹp rực rỡ của cô Ba, nhiều người Pháp đã đề nghị cô chụp ảnh để đăng báo ở chính quốc. Họ rất muốn chụp cô trong trang phục áo tắm nhưng cô không đồng ý. Chân dung cô sau đó được vẽ rồi in thành tem với số lượng phát hành lớn chưa từng có. Một thời gian sau đó, cô Ba lấy chồng Việt Nam bình thường và sống giản dị, bỏ lại đằng sau ánh hào quang phù phiếm và không bị ảnh hưởng bởi lối sống ngoại lai.

Sở dĩ gọi “cô Ba xà bông” vì hình của người đẹp này được in nổi trên các sản phẩm nổi tiếng của Hãng xà bông Việt Namdo ông Trương Văn Bền lập ra. Các hình ấy xuất hiện cùng lúc với các mẫu xà bông hình vuông nhiều cỡ, nặng 250 gr, 500 gr hoặc chỉ 125 gr, về sau thêm loại lớn và dài nặng gần 1 kg đúc thành cây mua về cắt từng miếng nhỏ xài dần. Mỗi loại như thế đều có sự “hiện diện” của cô Ba, lưu hành đến các nơi đô hội dần dần đến tận các chợ miền xa ngoài Sài Gòn và lục tỉnh. Như thế cô Ba đã nghiễm nhiên trở thành “người mẫu” đầu tiên gắn liền với một thương hiệu ViệtNammới ra đời đầu thế kỷ 20. Sự ra đời này cùng với hình ảnh cô Ba, theo một số nhà quan sát, đã nhấn mạnh sự có mặt của sản phẩm Việt và chấm dứt sự thao túng gần như độc quyền của Hãng xà bông Marseille của Pháp đối với người tiêu dùng Việt Nam lúc bấy giờ.

Cô Ba là ai mà được ông Trương Văn Bền chọn làm biểu tượng bên hương thơm xà bông Việt? Điều này tác giả Sài Gòn năm xưa đề cập đến một cách rõ nét, rằng: “Trong giới huê khôi, nghe nhắc lại, trước kia, hồi Tây mới đến có cô Ba, con gái thầy thông Chánh là đẹp không ai bì, đẹp tự nhiên, không răng giả, không ngực keo su nhơn tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt mượt và thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi Nhà nước in hình vào con tem Nhà Thơ Dây Thép (Bưu điện)”.

Xà bông Cô Ba

Xà bông Cô Ba

Những con tem in hình Cô Ba

Những con tem in hình Cô Ba

Cạnh cô Ba, tác giả nhắc đến một số hoa khôi khác như Tư Nhị, Sáu Hương, Hai Thời… vốn là những người đẹp đã làm nghiêng ngả nhà cửa ruộng vườn của nhiều tay hiếu sắc. Theo đó, các cô mỗi chiều ngồi trên xe Delage để mui trần, có tài xế riêng, hoặc ngồi trên xe Hoa Kỳ mới cáu cạnh để lượn đi lượn lại quanh các đường phố chính của Sài Gòn từ chợ Bến Thành qua đường Bonard (đường Lê Lợi ngày nay) vòng qua trường Chasseloup – Laubat (trường Lê Quý Đôn ngày nay), xuống khu Chợ Lớn, khoe sắc trên đường nhựa “để lên Thủ Đức ăn nem hoặc đến tắm suối Xuân Trường… Tối lại dưới bóng đèn, các cô như bướm tề tựu đủ mặt cạnh sòng bài sòng me, hoặc năm ba người gầy mâm hút có đờn ca giúp vui, báo hại các cậu con chủ điền muốn lên mặt với chị em đành phải trốn về bán lúa vay bạc Chà, cố cầm sự nghiệp ông bà để lại” mà chạy theo cho kịp nếp ăn chơi của các hoa khôi đương thời.

Nhưng nếp sống ấy dường như không phù hợp với cô Ba xà bông. Có người bảo vì cô sinh ra trong một gia đình công chức nên không quen sống buông thả, người khác cho rằng bản tính của cô vốn vậy từ lâu. Gần đây, vào giữa tháng 6.2006, trong bộ sách mới nhất quanh nội dung Hỏi đáp về Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh của nhiều tác giả do NXB Trẻ ấn hành, đã cho biết cô Ba là “người đã dám cầm súng bắn chết tên biện lý Jaboin, bị Tòa đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19.6.1893 và bị xử tử ngày 18.1.1894 tại Trà Vinh”. Người đẹp lừng lẫy Sài Gòn một thời, người mẫu đầu tiên của thương hiệu Việt nổi tiếng, đã có một kết cục cuối đời như thế.

Nhưng theo Thơ Thầy Thông Chánh, bài thơ do một người không rõ tên ở Trà Vinh sáng tác và được truyền khẩu khá rộng rãi ở Nam Bộ (Việt Nam) vào cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, bài thơ lại nói chính thầy Thông Chánh (cha của Cô Ba) đã bắn Biện lý Jaboin chứ không phải Cô Ba. Có thể tham khảo thêm thơ Thầy Thông Chánh tại đây:  http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%A1_Th%E1%BA%A7y_Th%C3%B4ng_Ch%C3%A1nh
Theo truyện thơ, ngày xảy ra sự kiện thầy Thông Chánh bắn Biện lý Jaboin là ngày Chánh Chung (tức Quốc khánh Pháp ngày 14 tháng 7). Thực tế ngày bắn là 14 tháng 5 năm 1893. Theo nhà nghiên cứu Trần Dũng thì tác giả truyện thơ cố tình đẩy lùi thời gian lại hai tháng nhằm hai mục đích: Thứ nhất, tiếng súng bắn Tây xảy ra ngày Quốc khánh Tây (Pháp) có tiếng vang hơn nhiều so với ngày thường; thứ hai, tác giả tạo ra bối cảnh hợp lý để qui tụ hàng loạt tên thực dân có máu mặt khắp Nam Kỳ về Trà Vinh cho thầy Thông Chánh ra tay thay vì có mỗi Jaboin.

Còn Cô Ba Sau khi thầy Thông Chánh bị xử tử, cô Ba toan trả thù cho cha nhưng vừa đưa súng lên bắn thì bị đối phương xô té. Bị bắt giam, cô Ba đã tự tử chết.

3. NGUYỄN HỮU THỊ LAN:

Năm 1932, trên đất Sàigon xưa cũng nổi lên một cái tên làm điên đảo đấng mày râu – Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan. Xuất thân từ nguồn gốc thế gia vọng tộc, cô là cháu ngoại của ông Lê Phát Đạt tức Huyện Sỹ, người đứng đầu trong tứ đại danh gia: Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định.

Sau khi tốt nghiệp tú tài ở Pháp về nước, Marie Thérèse tình cờ quen biết với Vĩnh Thụy khi Vĩnh Thụy đăng cơ trở thành vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, cô trở thành Nam Phương hoàng hậu vào ngày 20/3/1934, và cũng trở thành biểu tượng nhan sắc của cả nước.

Nguyễn Hữu Thị Lan

Nguyễn Hữu Thị Lan

Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Nam Phương hoàng hậu

Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Nam Phương hoàng hậu

4. CÔ BA TRÀ:

Một nhan sắc khác cũng nức tiếng toàn cõi Namkỳ là Cô Ba Trà (Yvette Trà). Những người quen biết và từng giao thiệp với Yvette Trà đều xem đó là niềm vinh dự để chứng minh đẳng cấp, đủ để hiểu ngoài việc xinh đẹp cô còn là một thương hiệu hiếm có, có lẽ do thông minh và hiểu tâm lý đàn ông!

Sinh năm 1906, được mệnh danh là Étoile de Saigon” (ngôi sao Sàigòn). Với nhan sắc hiếm có cộng với trí thông minh của mình, cô lần lượt “đốn ngã” hàng loạt những tay chơi hào hoa giàu có bậc nhất Sàigòn như lưỡng vị Hắc – Bạch công tử, công tử Bích (người dám một lúc tặng cho cô 70.000 đồng trong lúc vàng 60 đồng một lượng).

Những tay trí thức, máu mặt chốn quan trường thời Pháp thuộc cũng đổ gục vì cô: Quan tòa Trần Văn Tỷ, trạng sư Dương Văn Giáo, bác sĩ Lê Quang Trinh, Nguyễn Văn Áng, chủ sòng bạc Paul Ngọ tức Sáu Ngọ…

Cô ba Trần Ngọc Trà còn được mệnh danh bà hoàng vũ trường, sòng bài Sài Gòn hồi cuối thế kỷ XIX. Những bậc “máu mặt” đều biết rất rõ, cô Ba Trà chỉ thích chia cho mỗi ngưòi một mảnh tình gặm chơi đỡ buồn, chứ đừng ai mong lấy được Ngôi sao Sài Gòn làm của riêng hay làm người yêu vĩnh viễn vì cô Ba đã lập gia đình vài ba lần và rồi tan vỡ.

Chân dung cô Ba Trà

Chân dung cô Ba Trà

Nhưng tuổi thơ của người đẹp này lại vô cùng cay đắng, tủi nhục. Cha của cô đem lòng nghi ngờ sự chung thủy của vợ, ông không thừa nhận Trà là con đẻ. Và cũng vì quá ghen tuông nên cha cô đã qua đời vì thổ huyết. Bà nội của cô đau buồn nên cũng mất theo. Người bác ruột của cô vin vào cớ đó đã sỉ nhục, đánh đuổi mẹ con cô ra khỏi nhà.

Vì quá đau khổ, nhục nhã nên được bao nhiêu uất ức, mẹ cô đều trút lên vai đứa con nhỏ dại. Những trận đòn roi vô cớ liên tục ập xuống đầu cô nhiều đến nỗi, cô không còn thấy đau đớn. Chính điều này đã làm cho cô Ba Trà sau này luôn nhìn đời bằng một con mắt lạnh lùng, vô cảm.

Tình duyên, hôn nhân của cô cũng rất lận đận. Cô bắt đầu kết hôn ở tuổi 14, và đã trải qua 4 cuộc hôn nhân lần lượt là: viên quan ba người Pháp, con rai tỷ phú đất Phan Rang, bác sĩ Trần Ngọc Án, và cuối cùng là 1 triệu phú trẻ tuổi, nhưng tất cả đều tan vỡ. Kể từ đó, cô lao vào ăn chơi, cặp kè hết người này đến người khác và dấn sâu vào con đường bài bạc

Những canh bạc lớn đã đốt sạch gia sản của người đẹp. Khi còn trẻ, cô Ba Trà được nhiều người săn đón bao nhiêu thì đến lúc già, cô lại cô độc bấy nhiêu. Kể cả người tình nghĩa hiệp Lâm Kỳ Xuyên cũng ra đi không một lần ngoái lại. Đến cuối đời, hoa khôi Trần Ngọc Trà lâm vào cảnh nợ nần, túng bấn và phải đi làm công ở một cửa tiệm tồi tàn để sinh kế. Cuộc đời của đóa hoa đẹp nhất Sài Gòn lúc bấy giờ đã khép lại bằng những nốt trầm buồn bã.

5. MARIANNE NHỊ (TƯ NHỊ):

Nối gót Yvette Trà chính là Marianne Nhị hay còn gọi là Tư Nhị, cô có nhan sắc đậm đà và hoang dã hơn YvetteTrà. Marianne Nhị là “đứa con hai dòng máu”, cha gốc Khơ-me, mẹ Việt (quê Sa Đéc), gia đình sinh sống lâu năm ở Nam Vang.

Lớn lên, Marianne Nhị về ViệtNam, một mình dấn thân vào chốn đô hội ở Sàigòn với hai bàn tay trắng. Để có chỗ nương thân, Nhị lúc đầu xin làm em nuôi dưới trướng của chị Ba Phò và sống trong nhà chị ấy ở khu vực chợ Thái Bình.

Sau này, Marianne Nhị được Yvette Trà dìu dắt, từ đó, cô lao vào cuộc chơi với giới thượng lưu Sàigòn và nhanh chóng trở thành tình nhân của Fanchini, một trùm giang hồ gốc đảo Corse chuyên buôn thuốc phiện toàn cõi Đông Dương và tậu được một căn biệt thự khang trang ở đường Verdun (tức đường Cách Mạng Tháng Tám bây giờ).

Với bản tính man dại và chủ trương cạnh tranh với bà chị đỡ đầu Yvette Trà, Marianne Nhị lao vào các cuộc chơi như một con thiêu thân. Người tình của Tư Nhị thay xoành xoạch và thú hút thuốc phiện đã nhanh chóng đẩy Marianne Nhị vào bi kịch.

Sau vài năm, trong lúc Yvette Trà vẫn còn là một bông hoa đầy hương sắc, thì Marianne Nhị bỗng dưng biến mất.

Một người lịch lãm ở Sàigòn thời ấy tình cờ gặp Marianne Nhị trong một quán ăn ở đường George Guynemer vào năm 1946 với tình cảnh hoàn toàn khác xưa. Người này sau bữa điểm tâm, trả tiền xong định quay về, bỗng nghe tiếng gọi giật ngược: “Anh Ba!”. Ngoái lại, biết tiếng kêu ấy phát ra từ trong đám hành khất rách rưới, định bước đi, lại nghe gọi đến mình thống thiết lần nữa, lần này đượm vẻ bi ai hơn trước. Rồi một người đàn bà trong đám ăn mày tách ra, đến trước mặt anh Ba, thảng thốt nói: “Em là Tư Nhị đây”.

Nhìn kỹ một lúc, không nói nên lời, vì người đàn bà ấy trước kia là hoa khôi lừng lẫy một thời, giờ đây môi thâm đen, đôi chân nõn nà quấn quanh mấy lớp vải dính máu mủ với đám ruồi bu đen không ngớt, trông dơ dáy, não nề, không dám nhìn lâu, bỏ nhẹ 20 đồng bạc xưa vào tay Nhị rồi quay đi.

Biết chuyện, một bạn thơ muốn mượn hai câu lục bát của cụ Nguyễn Du, đó là câu mở đầu và câu kết thúc truyện Kiều ghép làm một, để nói về một đời nhan sắc phù hoa: Trăm năm trong cõi người ta. Mua vui cũng được một vài trống canh…

 (Sưu tầm – Tổng hợp)

Categories: Mỹ nhân | Leave a comment

BẠCH CÔNG TỬ – TỶ PHÚ ĐỐT TIỀN

Bạch công tử là một tay chơi nổi tiếng ở miền Nam những năm của thập niên 1920, 1930. Cùng với Hắc công tử, tức Công tử Bạc Liêu để lại nhiều giai thoại về ăn chơi hoang phí. Bạch công tử còn là người có rất nhiều đóng góp cho nghệ thuật cải lương ở miền Nam khi đó. Ông là chồng của NSND Phùng  Há.

Bạch Công Tử – Phước George

Ở bài trước, các bạn đã nghe kể chuyện công tử Bạc Liêu hay còn gọi là Hắc công tử. Bài này mời các bạn nghe chuyện về nhân vật thứ 2 trong bộ đôi mà người đời thường gọi chung là Hắc -Bạch công tử. Tên cúng cơm đầy đủ của Bạch Công Tử là Lê Công Phước, còn gọi là Phước George. Cha của Phước là Đốc sứ Lê Công Xuân, người gốc Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay), vốn làm giàu nhờ nhiều ruộng, nhiều của chìm của nổi trong các dịch vụ làm ăn mờ áo. Dòng họ Lê vốn có nhiều công lao với người Pháp thời ấy. cho nên ngoài nhưng ưu đãi trong công cuộc làm ăn, họ còn được chính quyền bảo hộ cho nhập Pháp tịch, bởi thế Lê Công Phước mới có tên là Phước George.

Ngay từ thuở thiếu thời,Phước George đã được gia đình gởi sang Pháp du học. Và cũng giống như Hắc công tử Bạc Liêu, anh chàng Phước sau một thời học ở Pháp chỉ về nước chỉ vỏn vẹn có một cái bằng cấp … nhảy đầm. Thất thu về học vânx, nhưng lại bội thu về vốn liếng ăn chơi trác táng, thành tích lẫy lừng nhất của Phước Geogre là mối tình giữa anh ta với cô công chúa của Sa Hoàng Nicolas đệ nhị, lúc đó đang lưu vong ở Paris. Chàng Phước bằng tiền từ quê nhà gửi sang, qua trương mục ngân hàng, đã rút ra tiêu xài xả láng, quyến rũ được cô gái Nga vương giả thất sủng đang cần tiền.

Qua cuộc phiêu lưu tình ái đó, Phước George đã tiêu xài khá nhiều tiền của ông bố, đến nỗi Đốc phủ Xuân phải triệu hồi cậu ấm Phước về nước. Vốn trắng trẻo đẹp trai, và cũng đẻ phân biệt với một công tử đường thời, người ta đặt cho Phước biệt danh la Bạch công tử. Nếu so về tiền của thì có thể Bạch công tử có phần kém hơn Hắc công tử Bạc Liêu, song kể về ăn chơi thì chàng Bạch công tử có phần trội hơn, có lẽ do bản tính hào hoa, do đã từng mê hoặc được cả công chúa Nga. Có nhiều giai thoại về những cuộc ăn chơi trác táng, đốt tiền như đốt rác của hai anh chàng này, mà tiêu biểu nhất là chuyện chàng này đốt giấy bạc cho chàng kia tìm của rơi. Chuyện như thế này: Một ngày kia, hai chàng Hắc -Bạch tham gia một bữa tiệc lớn tại nhà riêng của một người bạn chung. Trong buổi đó, lúc gầy sòng đánh bạc cho vui, Hắc công tử lỡ tay đánh rơi tờ giấy “oảnh” (giấy bạc Vingtpiastres – 20 đồng). Trong lúc Hắc công tử còn đang quờ quạng mò tìm dưới gầm bàn thì bất ngờ, Bạch công tử rút ngay tờ giấy “xăng” (cent – một trăm đồng), bật diêm đốt để soi cho chàng Hắc tìm tờ giấy 20 đồng. Đúng là một cách chơi khăm đầy ác ý, nhằm mục đích hạ nhục đối thủ của mình. Tất nhiên, Hắc công tử hận lắm nhưng anh chàng biết nhẫn nhục chờ cơ hội. Và cuộc trả thù nghe nói đã diễn ra sau đó vài tháng, khá ngông cuồng. Hôm đó đích thân Hắc công tử mời bạn bè từ quê nhà ở Bạc Liêu, để chiêu đãi một tiệc thật linh đình. Trong số khách đó không thể thiếu Bạch công tử. Trong buổi tiệc, khi ăn đến món tả – pín -lù (bò nhúng dấm), Hắc công tử đã dùng cả một bao toàn giấy bạc bộ tư (giấy 100 đồng Đông Dương có in hình chiếc lư đồng) để dùng làm củi đốt lò (thời đó vàng chỉ giá 50 đồng một lạng)

Cuộc rửa hận của Hắc công tử đã làm chấn động Nam Kỳ lục tỉnh thời ấy. Phước George thấm thía điều đó hơn ai hết, cho nên anh chàng quyết chí tạo thêm thanh thế, hầu lấn lướt địch thủ. Mục đích duy nhất của Phước là giành lại ảnh hưởng trong giới mỹ nhân đất Sài Gòn thời đó.

Bạch công tử tung “độc chiêu” bằng cách lập 1 đoàn hát lấy tên là Huỳnh Kỳ (thuở ấy dân chơi, dân hào phú rất mê đào hát, làm chủ một gánh hát lớn là một cách kinh doanh “thời thượng” vừa hốt bạc lại vừa lất tiếng). Gánh hát của Bạch công tử được tổ chức khá quy mô, ba chiếc ghe chài vận chuyển đoàn đi lưu diễn đây đó, được thiết kế như những chiếc du thuyền, và đặc biệt hơn nữa là ách bố trí của chủ nhà: chiếc thứ nhất có hai tầng, chia nhiều phòng, trong đó có phòng cho ông bầu Bạch công tử và các phòng để giải trí (đánh bạc, bida). Chiếc ghe thứ hai dành cho đào kép, có cả phòng tập tuồng. Còn chiếc ghe chỉ dành chở … đội bóng của gánh hát Huỳnh Kỳ. Đội bóng quy tụ nhiều cầu thủ có tiếng, được trả lương cao, chỉ để đá bóng mỗi khi gánh hát đi lưu diễn. Vào thời ấy, đội bóng đá này đã gây thích thú cho khán giả nhiều nơi …

Mục đích ban đầu của Bạch công tử là dùng đoàn hát để kinh doanh, nhưng bởi máu ăn chơi tiêm nhiễm nặng nên dần dần gánh Huỳnh Kỳ trở thành môi trường thuận lợi cho chàng công tử trắng này tiếp tục đốt tiền.Ông Đốc phủ Xuân lúc đó đã già, những dịch vụ tài chính khác đã có biểu hiện đi xuống … Thêm vào đó, với cách vừa làm ăn vừa phá của như Bạch công tử, nên chẳng mấy chốc nhà họ Lê mang những món nợ không thể ngời nổi.

Lúc ấy Bạch công tử lại đưa đoàn hát đi xuất ngoại, diễn cho Việt kiều ở Pháp xem. Họa vô đơn chí, thành công chẳng được bao nhiêu, nhưng khi trở về lại bị chìm tàu ở Địa Trung Hải. Của cải đổ xuống biển, chỉ may mắn là người còn sống sót. Lúc trở lại Sài Gòn, hầu như Bạch công tử đã trắng tay.

Lúc còn hưng thịnh, Bạch công tử từng tuyên bố ông sẽ không bao giờ nhờ vả người khác. Nếu có sạt nghiệp thì ông sẽ lái xe hơi raVũ ng Tàu và chạy thẳng xuống biển để kết liễu cuộc đời. Nhiều người cho rằng gọi là “ăn chơi” nhưng thực ra Bạch Công tử cũng chỉ lo cho gánh hát. Mặc dù vậy ông cùng với Công tử Bạc Liêu để lại khá nhiều giai thoại. Và trong giai đoạn đó, những người như Bạch Công tử, như thầy Năm Tú (người nhập cảng linh kiện tvề tổ chức lắp ráp và kinh doanh máy hát đĩa thời đó) đã có công trong việc phát triển cải lương  Nam bộ. Vương Hồng Sển, trong hồi ký 50 năm mê hát của mình cũng viết: “Tôi có nhiều cảm tình riêng đối với Cậu Tư”.

Sau khi chia tay với Phùng Há, Bạch công từ ngày càng lún sâu vào nghiện ngập. Tài sản lần lượt bán hết, người ta thấy ông lang thang ở vườn Ông Thượng (nay là Tao Đàn). Mặc cho cơn nghiện và đói khát hành hạ, ông không hề ngửa tay xin xỏ hay nhờ vả ai.

Sau đó ông được một người thân mang về chăm sóc. Đó là ông Nguyễn Ngọc Phi, một điền chủ đất ở chợ gạo, con trai một người bạn thân của ông Lê Công Sủng, bố của Bạch công tử.

Cuối năm 1949, Nguyễn Ngọc Phi đưa Bạch công tử về về chăm sóc tại gia đình ông ở thị trấn Chợ Gạo. Nhưng vì hậu quả của nghiện ngập, Bạch công tử mất đầu năm 1950.

Mộ Bạch công tử (màu hồng) trong một khu vườn không người chăm sóc ở xã An Thạnh Thủy – huyện Chợ Gạo

Theo ông Trương Ngọc Tường thì sau khi đã thành danh, nữ nghệ sĩ Phùng Há nhớ lại những người từng là ân nhân trước đây như thầy tuồng, đạo diễn, bà đã bỏ tiền ra xây mồ mả cho nhiều người. Trong đó có việc cải táng mộ Đốc phủ Lê Công Sủng và 2 người con của bà với Bạch Công tử đưa về Sài Gòn. Riêng mộ Bạch Công tử thì vẫn còn tại Chợ Gạo.

Categories: Dân chơi | Tags: , | Leave a comment

Thông Hiệp Quách Đàm – Ông chủ chợ Bình Tây

Tượng Quách Đàm trước chợ Bình Tây

Tượng Quách Đàm trước chợ Bình Tây

Người già Sài Gòn có thể nghe và biết về Quách Đàm, còn lớp trẻ ngày nay chắc chắn sẽ hỏi: “Quách Đàm là ai?”. Để trả lời, xin nhắc tới một nơi chốn khá dễ thấy: ngôi chợ Bình Tây (Quận 6, TPHCM ngày nay)

Quách Đàm là người Hoa, di dân qua Việt Nam kể từ khi phong trào phản Thanh phục Minh nổi lên mạnh mẽ tại Trung Quốc. Tuy vẫn khoác bên ngoài bộ cánh của một người Hán theo nhà Thanh, nhưng thực ra, theo nhiều người biết chuyện, Quách Đàm ngầm ủng hộ cho nhóm phản Thanh phục Minh.

Trở lại xuất thân của con người được liệt vào danh sách nhà hào phú bậc nhất ở Sài Gòn – Chợ Lớn thời ấy, chúng ta được biết, thuở nhỏ Quách Đàm có cuộc sống cơ cực, nghèo khó. Cũng giống như chú Hỏa, khởi nghiệp Quách Đám lập nghiệp bằng đôi quang gánh (mua ve chai). Quách Đàm vốn mồ côi, không nhà không cửa, nên phải sống lang thang đầu đường xó chợ. Ngày đi mua ve chai, tối về ngủ ở mái hiên ở các ngôi phố ở Chợ Lớn cũ, nằm ở khu vực Bưu điện Chợ Lớn, đầu đường Châu Văn Liêm ngày nay. Tuy sống cảnh đời bấp bênh như vậy, nhưng chú Ba Đàm (người ta thường gọi ông như thế) vẫn nuôi chí làm giàu. Vài năm sau, người ta thấy Quách Đàm có một ít vốn. Vẫn chưa có nhà cửa, nhưng chú Đàm không vì vậy mà không bắt đầu con đường “doanh nghiệp” của mình, bằng cách dùng số vốn ít ỏi, mua đi bán lại các  mặt hàng hiếm và lạ, như da trâu, vi cá. Thời đó, những mặt hàng này chủ yếu là đem bán ở nước ngoài.

Công cuộc kinh doanh của Quách Đàm không phải là suôn sẻ ở buổi đầu, bởi ông còn phải ngủ đường ngủ chợ, cho nên thường bị bọn xấu rình đắp cắp vốn liếng giấu trong hầu bao. Mất tiền nhiều lượt, nhưng chú Đàm vẫn không nản, kiên trì làm lại từ đầu, chỉ vài năm sau nữa, Quách Đàm đã có được một số vốn kha khá. Chú mướn được một căn phố ở khu vực chợ Kim Biên ngày nay (thời đó toàn bộ khu vực này còn là một con rạch chảy ra kênh Tàu Hũ). Lợi dụng địa thể ngôi nhà ở ngay bờ kênh, Quách Đàm đã chuyển sang kinh doanh nông sản, thực phẩm, chủ yếu là thu mua lúa gạo ở các tỉnh miền Tây. Ban đầu buôn nhỏ, sau phát triển to dần, trở thành nhà thầu cung cấp gạo lớn nhất nhì Sài Gòn – Chợ Lớn. Hầu hết những “chành” gạo ở dọc theo vùng Bình Đông, bến Lê Quang Liêm ngày nay, có thời là của chú Đàm.

Trong kinh doanh, Quách Đàm rất khôn khéo. Ông vừa tránh đối đầu với thể lực người Pháp, nhưng lại không hề thua kém họ trên thương trường. Họ Quách lại nhanh nhạy, thông minh, nên chẳng mấy lúc, nhờ tài ngoại giao, ông đã được “nhà nước bảo hộ” dành cho đặc quyền rồi, thì phải đền đáp lại, chừng như đó là cách của người Hoa trên thương trường: đã không làm nghĩ cử đẹp thì thôi, còn làm thì phải làm cho xôm trò. Sự xôm trò đó là ngôi chợ Bình Tây. Nguyên vào thời đó (khoảng năm 1920), chính quyền thành phố Sài Gòn nhận thấy ngôi Chợ Lớn cũ nằm ở gần chân cầu Chà Và đã quá cũ và chật chội, nên có ý định tìm địa điểm để dời đi, mà tìm mãi vẫn chưa có nơi nào thích hợp. Biết được tin đó, Quách Đàm hứa tặng không một khu đất khá rộng nằm ở khu vực Bình Tây, lúc đó đang là đất trống, vốn là sở hữu của ông. Chẳng những tặng đất, Quách Đàm còn cam đoan sẽ xây tặng cho một ngôi chợ mới, bề thế với một “số ít” điều kiện kèm theo: cho ông được cất hai dãy phố cặp theo hai hông chợ và phải đặt ngay trước cửa chợ một bức tượng đồng đúc hình … Quách Đàm.

Điều kiện dễ dàng đó đã nhanh chóng được chính quyền chấp nhận. Chợ xây hơn hai năm thì xong. Khi khánh thành, chợ được đặt tên là chợ Bình Tây, nhưng người dân vẫn quen gọi là Chợ Lớn Mới.

Kể từ khi tặng ngôi chợ, công việc làm ăn của Quách Đàm càng thêm khấm khá. Tuy nhiên, trong kinh doanh, ông cũng dùng những mưu mô thường thấy ở những tay phú thương cỡ bự. Có chuyện kể rằng, khi thấy giá lúa gạo đang bị sụt và ứ đọng, họ Quách đã tung tiền thu mua hết số lúa gạo ứ đọng, đem về chứa trong kho, rồi nhờ một người quen ở Singapore đánh liên tiếp nhiều bức điện tín về Sài Gòn đặt hàng lúa gạo với giá cao không thể ngờ. Tin đó được truyền rao ra ngoài, lập tức nhiều người cùng đổ xô đi thu mua lúa gạo, dĩ nhiên là với giá cao chứ từng thấy. Cho đến khi họ vỡ lẽ ra, thì chỉ có nước ngậm đắng nuốt cay và chịu trận. Quách Đàm vớ bở cú đó. Ông ta mãn nguyện tâm sự với bạn bè: “Khi ra làm ăn, tôi đã nhờ thầy địa lý coi hướng xây nhà trên một long mạch, đồng thời đặt tên cho công ty của mình là THÔNG HIỆP, điều đó cho thấy tôi sẽ phất lên”. Giải nghĩa chữ THÔNG HIỆP như thế này: Thông thương sơn hải (bán buôn khắp chốn), Hiệp quán càn khôn (thu tóm cả đất trời).

Dù lời nói của Quách Đàm có tính khoa trương, nhưng thực tế phải nhìn nhận là ông đã làm được việc mà nhiều người không làm nổi: từ bạch đinh trở thành đại phú chỉ với sức lực, tài năng và ý chí của mình.

Thượng Hồng

* Trích “Giai thoại về các tỉ phú Sài Gòn xưa”

Categories: Đại phú gia | Tags: , | Leave a comment

Blog at WordPress.com.