Khám phá

Chuyện về bia (La De) Con Cọp

Quảng cáo các sản phẩm bia BGI

Quảng cáo các sản phẩm bia BGI

Đã từ lâu rồi anh chị em bạn bè khi gặp tôi, sau khi biết tôi đã từng làm việc tại hãng BGI, Sàigòn, tức là hãng Brasseries, Glacières d’Indochine, công ty chủ nhà máy nấu La De ở Chợ Lớn, cạnh sân vận động Cộng Hòa (sân vận động Thống Nhất ngày nay – HNVĐ), đều yêu cầu tôi phải viết về La De, kể những giai thoại về La De.

Câu chuyện thường được mọi người nhớ về La De, thường hỏi tôi, là chuyện chai La De lớn đặc biệt gọi là La De Trái Thơm. Theo lời đồn, trong mỗi thùng 6 chai chỉ có một chai Trái Thơm, giá đặc biệt và cũng là quà tặng đặc biệt mỗi khi có khách quý. Ai đã được uống La De Trái Thơm đều khen là ngon đặc biệt, và khen ngon hơn chai La De thường. Thiệt tình mà nói là La De Trái Thơm, La De thường, La De Quân tiếp Vụ cũng là một thứ, vô chai có hình trái thơm thì nó Trái Thơm, vô chai thường thì nó là La De thường, gặp chai Quân tiếp Vụ thì nó biến thành La De Quân tiếp Vụ. Hãng BGI lúc ấy chỉ có nấu hai loại La De thôi :

1) La De thường: vào chai lớn (dung tích 66) thường gọi La De Con Cọp vì chai có cái đầu con cọp màu vàng và để nhãn hiệu Bière Larue.

2) La De 33: nấu thơm hơn, độ rượu nhiều hơn, vị uống đậm đà hơn, vô chai nhỏ (dung tích 33), tên thường gọi là Bia Băm Ba, nhãn hiệu là Bière 33 Export.

Vậy mà có người khen chê cho La De Trái thơm là ngon nhứt, xong đến La De Con Cọp và hạng chót là La De Quân tiếp Vụ. QTV dỡ nhứt vì là cho Quân đội uống. Chẳng qua là cái mã ở ngoài cả. Thế mới biết ở đời chỉ trọng cái bề ngoài. Quý vị nghĩ coi nấu 2 loại Bia đã tóe phở, học xì dầu hơi đâu, BGI đâu có quởn nấu ba bốn loại còn vô chai vô cộ, đổi kíp đổi người. Phức tạp lắm. Nội cách đổi vỏ chai cho hạp với rượu cũng đủ hao tiền. Nhưng cắt nghĩa hổng ai tin. Ông Cụ Bà Cụ tui, hễ khi tui đến nhà chơi, chẳng may lấy La De Quân Tiếp Vụ uống, vì ổng có hàng QTV do mấy chú em tui đem về, thì bà bảo : “Nhà hết La De để mẹ đưa tiền chú Thanh, chú Thanh là anh tài xế phục vụ ông cụ đi mua La De về cho con uống chứ uống chi đồ QTV dở lắm, để các em của con lính tráng nó uống, nó quen rồi.”. Tôi có trả lời cắt nghĩa cho bà hiểu là chỉ có một thứ bả không tin. Thiệt “Bụt nhà hổng thiên” !.

Bia La De 33, La De Con Cọp, La De Quân Tiếp Vụ

Bia La De 33, La De Con Cọp, La De Quân Tiếp Vụ

CÂU CHUYỆN LADE TRÁI THƠM

Lúc ấy là năm 1973, tôi làm chánh sở Tiếp thị (Chef du Service Marketing), coi luôn phần quảng cáo. Để hà tiện tiền làm nhãn ở Pháp, tôi sử dụng văn phòng quảng cáo của hãng, tôi nghĩ anh họa sĩ văn phòng quảng cáo (chuyên vẽ những fond cho các xe của hãng rồi các anh thợ sơn đồ chép lại) đủ tài nghệ chép lại cái nhãn đặt ở Pháp. Và tôi nhờ anh họa sĩ vẽ lại cái nhãn. Trên nhãn cái đầu con cọp vàng ở giữa hai bên có hai tràng hoa houblons, là loại hoa dùng để thêm cái vị nhẫn đắng vào bia. Nấu bia ngon dỡ là do cái tài thêm ít hoa houblon, cũng như gia vị ngũ vị hương trong nghề bếp núc Việt Nam ta vậy.

Nhãn vẽ xong đại khái cũng tạm ổn, vì anh họa sĩ nhà chưa bao giờ nhìn thấy hoa houblon, nên đinh ninh thấy hoa houblon giống trái thơm, cho là Trái thơm, và vẽ giống trái thơm. Các ông giám đốc Tây cũng ba chớp ba nháng, kể cả anh chánh sở trách nhiệm là tui, cũng thế.

Vì thiệt tình mà nói thì có ông nội nào thấy hoa houblon tươi đâu? Biết là houblon nhưng chỉ nhìn thấy hoa dưới dạng khô. Còn các anh kỹ sư nhà máy, các anh nấu rượu (brasseurs – đây là một cái nghề riêng) dân La De thiệt, thì ở nhà máy. Bọn quyết định là dân Văn phòng, dân làm Marketing quyết định mọi việc, bổn phận các anh kỹ sư là sản xuất, chỉ sao làm đúng vậy thôi. Quý vị thấy không, không phải chỉ có trong quân đội mới có cảnh lính văn phòng và lính chiến trường. Nhãn ô kê, gởi đi làm décalques đưa qua Công ty Thủy tinh Việt Nam (Khánh Hội) dán vào chai : 100 ngàn chai mới.

Khi đưa vào nhà máy Chợ Lớn, các lão kỹ sư cười vỡ bụng, “hoa houblon sao giống trái thơm thế nầy”. Nhưng đã nói các quan văn phóng là chánh mà, nên quyết định, cứ trộn chai mới vào với đám chai cũ, lẫn lộn chả ai biết gì đâu, người ta uống La De có ai thèm nhìn nhãn đâu. Chẳng lẽ vất bỏ 100 ngàn chai hay sao ? Vài ông giám đốc còn thày lay dạy đời “Dân Việt Nam không biết uống bia, uống quá lạnh, nhiều khi còn để đông đặc lại (bia đặc), còn thêm nước đá, ngon lành gì, vì vậy trái thơm hay hoa houblon có ai biết chi mô mà ngại ngùng, a – lê ta cứ thế mà làm”. Chàng chánh sở biết thân, im miệng thinh thích, ngậm miệng ăn tiền, phải bảo vệ danh dự anh họa sĩ nhà và danh phong Marketing, dù sao cũng… quê rồi.

Trên nhãn cái đầu con cọp vàng ở giữa hai bên có hai tràng hoa houblons, là loại hoa dùng để thêm cái vị nhẫn đắng vào bia. Nhãn vẽ xong đại khái cũng tạm ổn, vì anh họa sĩ nhà chưa bao giờ nhìn thấy hoa houblon, nên đinh ninh thấy hoa houblon giống trái thơm, cho là Trái thơm, và vẽ giống trái thơm.

Nhãn bia La De trái thơm

Nhưng không ai lường được cái tài doanh nhơn của người Hoa, của con buôn. Các chú Chệt nhà mình ở hãng (rất nhiều nhơn viên người Việt gốc Hoa, buôn bán ở Sàigòn phải biết “cỏn Tung Hỏa”, chẳng những biết nói “Quảng Đông Ngữ” mà cũng phải vài tiếng “Tiều châu ngữ” nữa cũng phải “Kít tèo” hay “Mai xín xắn bù chằn ếch” cho giống người ta, nói tóm lại con buôn giới thương mại phần đông là người gốc Hoa nếu không nói là một số rất đông. Thế là tiếng lành đồn xa tiếng dữ đồn gần, hãng La De vừa sản xuất được một thứ La De hảo hạng, La De trái thơm, một thùng chỉ một chai, để tặng các bạn hàng thứ thiệt, thứ ngon lành, thứ chịu chơi.

Cái luật may rủi, tình cờ, thì khi ra chai và vào thùng thì bao giờ Trái thơm cũng có mặt ở mỗi ngày sản xuất, mấy tay cao thủ bán hàng của hãng cứ thế mà sắp cho mỗi thùng một chai, rất là điệu nghệ, và tuyên truyền nguyên tắc của hãng mỗi thùng một chai. Nhưng khi đi giao hàng (bán sỉ) quý vị ấy tự nhiên đề nghị với các bạn hàng biết điệu nghệ thì có thể thêm 2 hoặc 3, thậm chí cả thùng toàn La De trái thơm tùy theo nét điệu nghệ và chịu chơi của thân chủ, “phép vua thua lệ làng” mà lỵ, phép hãng đấy, nhưng thua nghề của chàng. Và cứ thế giòng sông thương mại trôi theo giòng điệu nghệ, ăn nhậu.

Các bars, các quán nhậu cũng tùy điệu nghệ với các ông Thầy, ông Xếp, đàn anh… mà điệu nghệ giành chai La De Trái thơm cho người mình muốn nâng bi, ca tụng hay ca bài con cá. Cá nhơn tui đây, dân La De thứ thiệt, thế mà khi đi nhậu vẫn được bạn hàng và nhiều khi cả nhơn viên (cho biết khi cái dỏm trở thành huyền thoại thì cái dỏm trở thành cái thiệt) thương tình tặng một chai Trái Thơm. Nhưng mình cũng phải ngậm miệng khen ngon và cám ơn các cảm tình giành riêng ấy, và vì huyền thoại đã đến hồi quyết liệt, làm vỡ “mộng ban đầu”, e có thể “lãnh thẹo”.

Huyền thoại vẫn dai dẳng đến sau 30 tháng Tư, dân bộ đội, hay người “Hà Lội” cũng bị huyền thoại Trái Thơm. Nhiều tay nón cối dép râu, cũng chạy vào văn phòng ông giám Đốc, (sau Tết 1975, tôi được bổ nhiệm làm Giám Đốc Thương mại) làm quen, và xin ông GĐ đặc biệt “tặng không” vài chai Trái Thơm, hoặc thưởng thức Bia Trái thơm “cho biết”. Tội nghiệp, rất nhiều tay vượt Trường Sơn chỉ muốn uống Coca Cola “cho biết” (Tiếng Tây có thành ngữ “pour ne pas mourir idiot” – để khỏi chết ngu đần). Vì ta là quân chiến thắng nên chỉ xin thôi, và chỉ nhận quà cáp, của tặng, chứ không có mua bán gì cả.

XUẤT XỨ CỦA HÃNG BGI

Nhà máy bia BGI

Nhà máy bia BGI

BGI viết tắt của Brasseries (hãng nấu bia) Glacières (hãng nước đá) d’Indochine (Đông Dương) tức là Hãng bia và nước đá Đông Dương. Khởi đầu, BGI thâm nhập miền Nam chỉ với mục đích sản xuất nước đá để tiêu thụ tại một xứ nhiệt đới, do một anh kỹ sư Công Nghiệp (Arts et Métiers – Paris) sĩ quan hàng hải, Victor Larue, giải ngũ tại Sài Gòn thành lập năm 1875. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, BGI bắt đầu chuyển sản xuất bia và nước giải khát. Nhà máy BGI nổi tiếng nhất và lâu đời nhất là Nhà máy bia Chợ Lớn và Usine Belgique được xây dựng từ năm 1952.

Văn phòng BGI nằm trên đường Hai Bà Trưng cạnh hãng Nước Đá. Đấy là tên cúng cơm. Sau năm 1954, sau khi hết Indochine (Đông Dương), BGI bèn biến chữ I thành Internationales (Quốc tế). Mà Công ty Brasseries Glacières Internationales thiệt sự internationales thứ thiệt. Một ông cựu Tổng Giám đốc, ông Grandjean, con một cựu quan chức thuộc địa ở Hà Nội, còn cá nhơn ông lại là một cựu luật sư thuộc Luật sư đoàn Hà Nội, đã tả BGI bằng một câu xanh dờn, ví BGI như đế quốc của Đại đế Charle Quint thời Phục Hưng ở Âu Châu “Mặt Trời không bao giờ lặn trên đất của hãng BGI”. Mà thiệt vậy, BGI có nhà máy nấu La De từ Tân Đảo (Nouvelle Calédonie) đến Guayane nằm cạnh Brazil, thì không đi vòng thế giới sao ? Chưa kể ở Phi Châu, Đông Dương và thậm chí có mặt ở một nước Hồi giáo, Indonésia, nhà máy do tôi thương thuyết thành lập ở thành phố Médan trên đảo Sumatra (đây là một tự hào của cá nhơn tôi, thành tích bán rượu cho dân Hồi giáo).

Ngoài Bia 33, BGI còn sản xuất các loại bia mang nhãn hiệu Bière Royale, Bière Hommel (bia nhẹ) và Tiger Beer (người ta thường gọi là “bia con cọp” vì có nhãn hiệu hình con cọp).

Năm 1975, BGI cũng vừa đủ 100 tuổi. Sau khi Sài Gòn đổi tên, chính quyền tịch thu tài sản của chủ Pháp và Nhà máy bia Chợ Lớn trở thành Bia Sài Gòn và Usine Belgique cũng đổi thành Chương Dương, nhưng vẫn là các nhà máy sản xuất nuớc giải khát.

VỀ BIA 33

Về sau BGI cũng từ từ rút các cơ sở nhà máy, bán dần dần và nay không còn gì cả. Chỉ còn có mỗi Bia 33, chai nhỏ 33 phân khối. Tên bia 33 khai sanh tại Hà Nội năm 1949.

Ngày hôm nay Bia 33 cũng tỵ nạn tại Đan Mạch (do Hãng Carlsberg – Đan Mạch sản xuất). Bia 33 vì sanh ở Hà Nội nên dân Sài Gòn vẫn gọi “Bia 33” (gọi theo dung tích), hay vắn tắt “Băm Ba”. Còn chai bia lớn gọi La De Con Cọp, hay La De lớn (vì dung tích 66 phân khối).

Còn bia 333 bây giờ, nếu nhìn kỹ cái nhãn của 333 và 33 hồi xưa thì chỉ thêm số 3 thôi, cái người tác giả của 333 đó là anh Chương lúc bấy giờ ảnh làm trong hãng Marketing với tui (cũng là người vẽ nhãn cho bia LADE trái thơm), ảnh vẽ quẹt thêm số 3 nữa.

BGI đã tự hào là “Một loại bia 5 châu lục” thông qua việc xuất cảng Bia 33 ra khắp thế giới. Trong mẫu quảng cáo dưới đây ta thấy chữ “Bia” được hiển thị qua nhiều ngôn ngữ: Bière (tiếng Pháp), Beer (tiếng Anh), Bier (tiếng Đức), Bir (tiếng Indonesia), Birra (tiếng Ý)…

Nhãn bia La De 33

Nhãn bia La De 33

Nói thì La De, nhưng viết LA VE, cũng vì một anh Tây ở hãng đã viết và cho in trên cuốn lịch phát hằng năm, màu vàng với con cọp nằm ngang màu đen và viết LA VE LARUE. Dân Tây hồi đó khi mới đến Sài Gòn khi vào những quán ăn gặp cái lịch ấy thường đặt câu hỏi cái hãng nào mà “Rửa Đường, rửa Phố” như vậy, vì học đọc Lave (động từ Laver, rửa, to clean, to wash) la rue (rue là đường phố – street). Để tránh cái ngộ nhận ấy, cá nhơn tôi trưởng Marketing bèn đề nghị thay đổi cách gọi trên tấm lịch ấy. Cũng vì trong cùng thời gian ấy, đang có một chương trình sản xuất một loại Bia Màu, Bia màu Nâu (Bière Brune), nên tôi thưòng dùng chữ Bia hơn chữ La De, gọi Bia Đen, Bia Nâu, Bia Màu nó dễ nghe hơn, cho nên Tết năm 1975, cái lịch cố hữu màu vàng, con cọp đen được in lại với chữ BIA LARUE. Năm ấy, mất luôn chữ La De hay LA VE, ôi thôi đó cũng là cái điềm. Có một cái an ủi, là có những bạn hàng không bằng lòng chữ Bia nói là ở dưới quê (guê) người hổng biết bia là gì nên phải giữ chữ La De. Tôi có cho in thêm 5000 tấm La Ve Larue. Ôi thương làm sao cái tình “miệt Dườn” của “quê hương mình”.

Năm 1976, tôi không ra lịch ra liết gì cả. Chế độ phân phối mà làm gì có marketing.

Tên Anh Victor Larue cha đẻ hãng BGI chỉ có ở Chai La De lớn thôi, phần còn lại không ai nói tới. Mà cũng nực cười. Ổng đẻ ra hãng Nước đá, nhưng tên ổng lại đặt cho La De.

Ngày nay với kỹ thuật mới, bia hơi bán trong thùng sắt có thể giữ được 6 tháng. Còn bia chai giữ được một năm. Chả bù vào những năm 1970 ở Sàigòn chúng tôi chỉ bán Bia Hơi cho những quán nào bảo đảm bán hết thùng bia trong 24 giờ. Sau đó đổi thùng mới, súc hệ thống hơi và vòi, mà phải để nhơn viên BGI làm, mới bảo đảm, vì chúng tôi, hãng BGI bảo đảm an toàn, vệ sanh, và dĩ nhiên hương vị của bia. Vì thế ở Sài Gòn lúc bấy giờ rất ít quán có Bia hơi.

Quý bạn chắc còn nhớ quán bán Bia Bock ở Chợ cũ đường Hàm Nghi cạnh Ty Ngân Khố không ? Chiều chiều ra đấy làm vài ly Bock, ăn một hai hột vịt lộn, hay Bò Bía hết xẩy.

Đó là vài mẫu chuyện của Hãng La De, Nuớc Ngọt, Nước Đá thời của mình. Nay tình cờ có một bài báo viết về La De hay Bia tôi xin phỏng dịch và viết lại hầu quý độc giả, gọi là quà tặng khi vào Mùa Hè.

Bài do HNVĐ sưu tầm và biên tập

Nguồn:

  • Tác giả Phạm Văn Song
  • Blogger Nguyễn Ngọc Chính
Advertisements
Categories: Thương hiệu xưa | Tags: , , , , | Leave a comment

Kem đánh răng Hynos

Một bảng quảng cáo kem đánh răng Hynos xưa với hình ảnh đại diện là anh Bảy Chà đen

Một bảng quảng cáo kem đánh răng Hynos xưa với hình ảnh đại diện là anh Bảy Chà đen

Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem đánh răng Hynos. Lúc đầu, ông chỉ là người làm thuê cho hãng kem Hynos, lúc này Hynos chỉ là một hãng kem nhỏ, ít tiếng tăm do một người Mỹ gốc Do Thái có vợ Việt Nam mở hãng sản xuất kem đánh răng ở Việt Nam. Sau này khi người vợ mất, ông chủ buồn rầu bỏ đi giao lại cho ông vì ông được tiếng là trung thành, cần cù làm ăn.

Vương Đạo Nghĩa, là một người có óc làm ăn cấp tiến kiểu Tây Phương. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo hàng của hãng ông trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Trung Hoa vào quảng cáo, sau khi gặp lại người anh họ (con ông bác) ở Hong Kong là tài tử Vương Vũ và được ông mời đến Việt nam nhiều lần trong các dịp nghĩ hè. Người dân miền Nam không thể quên hình ảnh tài tử “Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp” hay “anh Bảy Chà cười toe với hàm răng trắng chói” có mặt khắp nơi trên các đường phố, ngõ hẻm. Bên cạnh đó, điệp khúc Hynos cha cha cha… trên đài phát thanh và trên chiếc deux chevaux (2CV) bán hàng tại các chợ Sài Gòn.

Có lẽ ai sống ở Sài Gòn từ trước năm 1975 cũng đều quá quen thuộc với hình ảnh anh Bảy Chà Và đen trên hộp kem đánh răng Hynos.Vương Đạo Nghĩa chọn hình ảnh một ông Chà Và da thật đen làm biểu tượng quảng cáo cho sản phẩm của mình cũng chính bởi vì nước da ngâm đen sẽ làm nổi bật lên hàm răng trắng, và mục đích của Vương Đạo Nghĩa cho hình ảnh quảng cáo này là: chỉ có dùng kem đánh răng Hynos mới có được hàm răng trắng khỏe như thế. Cũng nói thêm về người Chà Và ở đây là chỉ những người đến từ đảo Java, về sau này dùng để gọi tất cả những người có màu da ngâm ngâm như Chà Bom bay (Bombay, Ấn Ðộ), Chà Ma ní (Manila, Phillipines)….Chữ Chà Và là cách đọc trại từ chữ “Java”.

Sản phẩm của hãng kem đánh răng Hynos cạnh tranh với các hãng kem Việt Nam hiệu Perlon và Leyna ở miền Nam và kem ngoại quốc như Colgate (Mỹ), C’est it (Pháp). Khi Hynos lên ngôi thì các thương hiệu kem đánh răng khác như Kool, Gibbs, Perlon bị cáo chung. Hynos có mặt khắp nơi tại Việt Nam, Kampuchea, Lào, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông.

kem-danh-rang-hynos-5

Một mẩu quảng cáo kem Hynos với những câu chữ rất mộc mạc, gần gũi

Trong vòng 10 năm, kể từ ngày góp mặt trên thị trường, kem đánh răng Hynos đã từ một cơ xưởng sản xuất nhỏ bé vượt lên thành một xí nghiệp với cá thiết bị sản xuất hiện đại. Sản phẩm của Hynos đã qua mặt các sản phẩm cùng ngành nghề khác trong nước về chất lượng và kỹ thuật sản xuất. Số lượng sản phẩm xuất xưởng đã vượt qua các nhà máy có sản phẩm nổi tiếng và lâu đời như Perlon, Leyna. Kem đánh răng Hynos đã độc chiếm thị trường nội địa và tạo được ảnh hưởng khá mạnh mẽ trên thị trường Đông Nam Á. Kem đánh răng Hynos đã được bày bán ở các nước lân cận trong vùng Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Hồng Kông và được người tiêu dùng rất hoan nghênh. Người ta nói ông chủ Hynos đã không ngần ngại trích ra 50% lợi nhuận cho việc quảng cáo. Có thể nói, đây là một tỷ lệ quảng cáo đột phá và đầy ấn tượng trong bối cảnh nền thương mại của Sài Gòn xưa đang trên đường hội nhập.

Saigon Feb 1969 Hynos sign at market

Bảng quảng cáo của Hynos được đặt cạnh bảng quảng cáo của Perlon ở chợ Bến Thành, đây là hai thương hiệu kem đánh răng cạnh tranh mạnh thời đó

kem-danh-rang-hynos-2

Quảng cáo của Hynos ở khu vực Chợ Lớn

Năm 1975, hãng Hynos được bàn giao lại cho Nhà nước, sáp nhập với Công ty Kolperlon thành Xí nghiệp Kem đánh răng Phong Lan. Sau đó liên doanh với các công ty nước ngòai và đổi tên thành công ty Hóa phẩm P/S. Sau khi nhượng vốn liên doanh cho Unilever, Công ty Hóa phẩm P/S quay lại sản xuất kem Hynos.

Cũng sử dụng lại nụ cười anh Bảy Chà trên vỏ hộp kem, đồng thời làm mới bằng hình ảnh gia đình hiện đại, Hynos đã có mặt trên kệ hàng của các siêu thị, dù số lượng chưa thật nhiều.

Hộp kem đánh răng Hynos ngày nay

Hộp kem đánh răng Hynos ngày nay

Hòn Ngọc Viễn Đông tổng hợp

Categories: Thương hiệu xưa | Tags: | Leave a comment

Bánh Trung Thu Đông Hưng Viên

Trước 1945, trục đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) nối liền Sài Gòn-Chợ Lớn, là trung tâm buôn bán sầm uất. Dọc trục đường này mọc lên dãy phố cao lầu, tửu điếm, hiệu buôn nhộn nhịp người mua kẻ bán, ăn uống, đàn ca hát xướng. Vào mùa trung thu, các loại bánh nướng, bánh dẻo được làm thủ công, bày bán nhưng còn rất thưa thớt. Tới những năm 50 của thế kỷ trước, các quầy bánh trung thu mới bắt đầu xuất hiện nhiều nhưng cũng chỉ quanh quẩn khu vực Chợ Lớn. Đến những năm 60, bánh trung thu mới được tiêu thụ rộng rãi hơn ở Sài Gòn – Chợ Lớn, và bắt đầu được người dân các tỉnh miền Nam bộ và Trung bộ ưa chuộng. Lúc này, những cái tên Đồng Khánh, Long Xương, Tân Tân, Đại Chúng, Đông Hưng Viên… đã trở thành những thương hiệu quen thuộc với người dân nơi đây.

BÁNH TRUNG THU ĐÔNG HƯNG VIÊN

Một tiệm bánh trung thu ở Sài Gòn trước 1975

Một tiệm bánh trung thu Đông Hưng Viên ở Sài Gòn trước 1975

Ở Sài Gòn ngày trước có một thương hiệu bánh trung thu mà ai cũng biết và đến ngày nay thương hiệu này vẫn còn. Bánh trung thu Ðông Hưng Viên đã danh tiếng hơn một thế kỷ nay, bắt đầu từ phố hàng Buồm Hà Nội (Escalier D’or Hà Nội cũ), sau đó năm 1954 thương hiệu bánh trung thu Đông Hưng Viên theo dòng người di cư đến Sài Gòn và trở thành 1 thương hiệu bánh trung thu gia truyền nổi tiếng của người Việt tại địa chỉ 23, Phan Chu Trinh, cửa Tây chợ Bến Thành và giữ vững cho đến năm 1975.

Bà Hoàng Kim Loan chủ tiệm bánh Đông Hưng Viên tại Hoa Kỳ, là người kế thừa bí quyết làm bánh trung thu gia truyền từ người cha. Ba của bà là thợ chính của tiệm bánh Đông Hưng Viên tại Hà Nội kể cả khi Đông Hưng Viên “di cư” vào Sài Gòn. Ông đã để lại cuốn sổ ghi công thức bánh trung thu Đông Hưng Viên cho bà, cô con gái thứ 7 của gia đình 10 người con. Bà Kim Loan và em gái đã sang Hoa Kỳ định cư cùng với cuốn sổ ghi bí quyết làm bánh của Đông Hưng Viên và bà mở tiệm tại đây.

6816320083_415aa44a66

Một biểu ngữ quảng cáo bánh trung thu Đông Hưng Viên ở Sài Gòn trước 1975

Ở Hoa Kỳ có duy nhất 1 tiệm bánh trung thu Đông Hưng Viên tại địa chỉ: 8536 Westminster Blvd. Westminster, CA 92683. Lúc đầu tiệm bánh Đông Hưng Viên ở Hoa Kỳ nằm tại quận Cam, ra đời năm 1992 toạ lạc tại đường Bolsa. Sau đó đến cuối năm 1995 tiệm bánh Đông Hưng Viên được dời về Westminster.

Ngoài ra ở Sài Gòn hiện nay cũng có một cơ sở bánh trung thu Đông Hưng Viên hiện có ở địa điểm số 176-177, Bãi Sậy, Q6. Nhưng cơ sở này không liên quan đến cơ sở của Đông Hưng Viên tại Mỹ có thể cũng là do gia truyền từ một người thợ chính của lò bánh trung thu Đông Hưng Viên từ trước năm 1975 để lại.

Hòn Ngọc Viễn Đông tổng hợp

Categories: Thương hiệu xưa | Tags: | Leave a comment

Địa danh Thủ Thiêm bắt nguồn từ đâu?

Thủ Thiêm xưa là khu vực phường Thủ Thiêm, quận 2 hiện nay. Địa hình vùng này trũng nên giao thông đường bộ không thuận lợi mà chỉ phát triển giao thông đường thủy. Vì thế từ lâu đã có câu hát:

Bắp non mà nướng nửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm

Địa hình trũng cũng là môi trường thuận lợi cho bàng, năn, lác … phát triển. Bàng là nguyên liệu quan trọng cho nghề đươn đệm, đặc biệt là đươn đệm buồn dùng cho ghe trên sông. Ở khu vực quận 1 nay, vào thời chúa Nguyễn có một xóm Đệm Buồm, vì thế mà có câu hát:

Ngõ lên trên chợ Thủ Thiêm
Thấy em đươn đệm giắt ghim trên đầu

Nhưng tại sao có tên Thủ Thiêm? Ở Nam Bộ có nhiều địa danh được cấu tạo theo công thức: thủ + tên người, như Thủ Thừa là ông thủ ngự tên Mai Tự Thừa (Long An), Thủ Đức là ông thủ ngự tên Đức. Thủ Thiêm là ông quan tên Thiêm làm chức thủ ngự.

Theo Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của thì trại thủ là trại của làng lập ra để giữ trên bộ, còn phần thủ thì canh giữ đường sông. Vậy đây chính là phần thủ canh giữ đường sông Bến Nghé.

Trích Hỏi đáp về Sài Gòn – TPHCM – Tập 1

Categories: Nguồn gốc tên gọi | Tags: , , | 5 Comments

Địa danh Đakao có phải xuất phát từ Đất Hộ?

Đúng vậy. Thời Pháp thuộc, có giai đoạn hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn được sáp nhập lại thành “Địa phương Sài Gòn – Chợ Lớn” (Région de Saigon – Cholon) với tổ chức bên dưới là các hộ (quartier), tương đương cấp tổng ở các tỉnh. Người đứng đầu một hộ gọi là Hộ trưởng (Chef de quartier). Tên gốc của vùng đất Đakao ngày nay là Đất Hộ (đất của hộ hoặc đất do hộ quản lý). Trong sách báo và các văn bản thời trước, người Pháp đã phiên âm địa danh Đất Hộ thành Đakao. Trên thực tế địa danh Đakao chỉ phổ biến rộng tại Sài Gòn từ thập niên 1950-1960 trở về sau.

Ở thành phố cũng có một vài địa danh bị “biến âm” tương tự như: địa danh Láng Thọ viết thành Langto rồi Việt hóa thành Lăng Tô; địa danh Chí Hòa, người Pháp viết là Kihoa, một số người Việt đọc thành Kỳ Hòa; địa danh Thuận Kiều người Pháp viế thành Tong-kéou và có người đã “chuyển” thành Đông Khẩu.

Trích Hỏi đáp về Sài Gòn – TPHCM – Tập 1

Categories: Nguồn gốc tên gọi | Leave a comment

Về nguồn gốc tên gọi Củ Chi?

Củ Chi trở thành địa danh hành chính từ năm 1956. Huyện Củ Chi vốn là hai quận Củ Chi (Hậu Nghĩa) và quận Phú Hòa (tỉnh Bình Dương) nhập lại. Củ Chi là tên gọi dân gian của cây mã tiền có nhiều ở vùng này vào thời đó. Cây mã tiền, một loại cây ở rừng, leo bằng móc, lá mọc đối có ba gân, hoa trắng quả tròn, hạt dẹt như khuy áo, dùng làm thuốc.

Trích Hỏi đáp về Sài Gòn – TPHCM – Tập 1

Categories: Nguồn gốc tên gọi | 1 Comment

Những người làm trang phục tuồng

20 năm tận tụy với nghề đủ thấy tình yêu của vợ chồng nghệ sĩ Công Minh dành cho trang phục tuồng là quá lớn.

Con nhà nòi

Trong con hẻm nhỏ trên đường Bạch Vân, Q.5, nghệ sĩ Công Minh tiếp tôi bằng vẻ chân tình, xởi lởi của người Nam bộ. Anh là con thứ 9 của nghệ sĩ Minh Tơ, em ruột của những tên tuổi trên sân khấu Sài Gòn trước giải phóng như: Xuân Yến, Thanh Tòng, Thanh Loan, Xuân Thu. Mẹ Công Minh, nghệ sĩ Bảy Sự, là cô đào hát bội tài sắc Sài Gòn xưa kia. Dượng bảy là nghệ sĩ Thành Tôn (cha của Bạch Lê, Thành Lộc), chú bảy là Khánh Hồng, cha của nghệ sĩ Chí Bảo, cô dượng tám là Bạch Cúc, Hoàng Nuôi – mẹ cha của đạo diễn Phượng Hoàng… Thế hệ con cháu của dòng họ nay là những nghệ sĩ thành danh như Quế Trân, Trinh Trinh, Tú Sương.

Image

Nghệ sĩ Công Minh và cặp lông chim trĩ – Ảnh: Đ.T

Sinh năm 1955 tại Sài Gòn, Công Minh còn nhớ nhiều kỷ niệm với người cha, kép hát bội lừng danh Minh Tơ. “Ngày xưa, nhìn cha và các cô chú diễn, tôi ngấm vào máu cách thiết kế đồ tuồng lúc nào không biết. Năm 10 tuổi, tôi phụ cha đi diễn ở khu Ngã năm Chuồng Chó (Q.Gò Vấp). Diễn xong, ông chở tôi ngồi sau chiếc xe Suzuki cà tàng, phun khói mù mịt về nhà dưới cơn mưa tầm tã. Tôi ngồi co ro ôm quần áo, đạo cụ, lạnh run người. Về nhà, kiểm lại mới hay tôi đã đánh mất bộ râu dài đen nhánh mà ông dùng hóa trang nhân vật Quan Công. Đây là bộ râu ông rất quý. Tôi bị mắng một trận tơi bời”.

Ông nội Công Minh là kép Hai Thắng, người Sài Gòn sống ở thập niên 1940 – 1950 đều biết. Nghệ sĩ Minh Tơ nối nghiệp bằng hàng loạt vai diễn tuồng cổ để đời: Lữ Bố, Dương Tôn Bảo, Quan Công, Cao Hoài Đức, Hoàng Phi Hổ, Bá Lý Hề… Suốt vài thập niên, cho đến tận ngày giải phóng miền Nam, Minh Tơ luôn được khán giả Sài Gòn bình chọn là kép hát bội xuất sắc nhất.

Gìn giữ nghệ thuật bằng nghề may

Công Minh thú nhận, hơn 30 năm trước, lúc còn đi hát anh đã thấy thích trang phục tuồng. Năm 1992, trong một lần thực hiện trang phục cho vở Dương Quý Phi để Saigon Video ghi băng với diễn xuất của nghệ sĩ Lệ Thủy, Công Minh được đánh giá cao. Sau đó, anh làm tiếp phục trang và đạo cụ vở Xử án Bạch Quý Phi do anh Thanh Tòng thực hiện cho Đài truyền hình Cần Thơ. “Đây là thời điểm nhiều video cải lương ra đời nhưng trang phục lại hết sức lòe loẹt, diêm dúa, không theo đúng truyền thống nên tôi “nóng máu” quá, nhảy ra làm. Ở nhà tôi còn đầy đủ từ mũ mão đến trang phục quan văn võ, giáp lính, hia, cả cặp lông chim trĩ, chim bản do cha để lại. Tôi dựa trên nền tảng đó để thiết kế sao cho phù hợp với nhân vật”.

Anh cho biết, ngày trước cha anh phải mua trang phục những vở Hồ Quảng tận tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Riêng cải lương thì xuống tận Tiền Giang đặt các nghệ nhân làng nghề thực hiện phần phục trang. “Đó là nghề gia truyền của đất Nam bộ nhưng rồi dần dần bị thất truyền. Tôi phải tự mày mò thực hiện từng mẫu trang phục tuồng cổ, sử dụng dây tim đèn dầu hỏa, nhuộm màu rồi uốn lượn thành hoa văn trên áo. Vải thì dùng phi bóng, ka tê. Tôi thiết kế mẫu, pha màu nhuộm vải còn ông già vợ và nghệ sĩ Chí Tiên (em ruột NSƯT Bảo Quốc) lo phần may. Thập niên 1940-1950, phục trang cải lương ở Sài Gòn đều do bác Tám Trống cùng Năm Thịt (cha nghệ sĩ Bảo Ly) làm. Sau này, tôi kết thêm kim sa, vẽ kim tuyến lên bộ quần áo để lấp lánh hơn dưới ánh đèn sân khấu”, Công Minh thổ lộ.

Image

Chí Bảo, Thanh Tòng, Linh Châu và Công Minh trong vở Lưu Quan Trương với trang phục do Công Minh thiết kế – Ảnh: NV cung cấp

Hiện cả gia đình Công Minh đều làm phục trang sân khấu. Anh thiết kế, vẽ mẫu, vợ anh – chị Yến Phương may. Hai con gái và các cháu cũng phụ may, kết cườm. “Tôi và vợ đang truyền nghề lại cho thế hệ sau. Tôi không muốn nghề này bị mai một bởi đó không chỉ là may mặc bình thường mà giữ cả cái hồn, nét văn hóa của dân tộc. Cha ông đã để lại cho cháu con di sản đồ sộ về cải lương, về tuồng cổ, mình và thế hệ sau mà không gìn giữ là có tội với tiền bối”.

Ngoài phục vụ trong nước, anh còn xuất rất nhiều bộ trang phục tuồng sang Mỹ, Pháp, Úc, Canada… để nghệ sĩ Việt kiều biểu diễn. “Đó cũng là cách để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mình”, anh nói. Một bộ trang phục tuồng cổ Công Minh thực hiện chỉ có giá từ 700.000 đồng đến 1,5 hay 2 triệu đồng là tối đa, không đắt nếu so với công sức đã bỏ ra. Rồi anh khoe với tôi 2 bộ lông chim trĩ, chim bản của cha để lại, giờ cực khó kiếm: “Muốn làm trang phục tuồng cổ, hát bội bắt buộc phải có lông chim này đính lên mão”.

Gia đình có đến 5 đời làm nghệ thuật, nổi danh Sài Gòn xưa và nay nhưng Công Minh không khỏi ngậm ngùi khi cải lương, hát bội dần ít được giới trẻ quan tâm. “Thôi, còn giữ được cái gì thì cố giữ. Sài Gòn mà mất đi cải lương thì khó mà hình dung ra nét văn hóa của vùng đất này”, anh tâm sự.

Phải gắn với lịch sử

Công Minh nói, nếu anh không làm, nghề này chắc chắn sẽ mất đi. Anh còn dành tặng nhiều bộ trang phục tuồng đẹp nhất cho Bảo tàng TP.HCM với mong muốn: “Con cháu mình sẽ nhìn vào đó để hiểu thêm về lịch sử sân khấu VN cách đây vài thập kỷ cho đến tận hôm nay. Tôi từng phá vỡ hình ảnh Hai Bà Trưng mặc áo dài khăn đóng, cưỡi voi xông trận, hay tướng Tô Định của Tàu kết tóc đuôi sam như trên một số tuồng trước đây đã làm. Thời Hai Bà Trưng làm gì có áo dài khăn đóng và tóc đuôi sam chỉ đến đời nhà Thanh thế kỷ 17 mới xuất hiện. Trang phục tuồng cổ phải gắn liền với lịch sử. Làm sai lệch sẽ bị khán giả phát hiện ra ngay”.

Đỗ Tuấn (Báo Thanh Niên)

Categories: Sài Gòn kỳ nhân | Leave a comment

Bậc thầy truyền thần

Bằng nét vẽ tài tình, chỉ với hai màu đen trắng, họa sĩ Từ Hoa Lợi là bậc thầy tranh truyền thần.

Nhờ nghe theo Bác mà sống khỏe

Trong khoảng sân chỉ độ 1,5 m x 2 m trước ngôi nhà 596 đường Điện Biên Phủ, ông lặng lẽ hàng giờ chăm chú vào bức họa mặc cho dòng xe cộ tấp nập ngược xuôi. Những bức ảnh mục nát qua thời gian, nhờ bàn tay tài hoa của ông bỗng hồi phục, đầy chất nghệ thuật hơn, thấm đẫm thần sắc hơn.

75 tuổi và 53 năm vẽ truyền thần, đủ thấy bề dày nghề nghiệp của họa sĩ gốc Hải Phòng này. “Lớn lên tôi được gia đình cho ra Hà Nội học. Năm 1954, thủ đô giải phóng, tôi chỉ là anh học trò lớp đệ tứ (lớp 9 ngày nay)”. Năm 1956, ông nộp đơn thi vào Trường ĐH Mỹ thuật Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp năm 1959, ông xin làm họa sĩ trang trí quảng cáo, thiết kế sân khấu cho Đoàn Xiếc Nhân dân trung ương.

“Một ngày, trong lúc đang lui cui vẽ quảng cáo bảng hiệu cho đoàn xiếc, tôi giật mình nghe mọi người la lớn: “Bác Hồ đến thăm!”. Mừng quá tôi nhảy xuống thang, chạy đến bên Bác. Tôi vẫn còn nhớ rõ Bác thật giản dị với bộ bà ba đen, chân mang đôi dép lốp. Bác xoa đầu tôi và anh em khác trong đoàn rồi dặn dò: “Các cháu thanh niên học tập Bác được mọi điều nhưng chỉ 2 thứ duy nhất không được bắt chước Bác. Thứ nhất là nghiện thuốc lá và thứ hai là không lấy vợ. Thanh niên VN là thế hệ kế thừa, tương lai của đất nước mà không lập gia đình là không duy trì được nòi giống Việt”. Nghe lời Bác dặn dò lần gặp mặt duy nhất trong đời, tôi không nghiện ngập bất cứ thứ gì từ thuốc lá đến rượu, chất kích thích, sống khỏe khoắn, lành mạnh, hết lòng tận tụy với công việc nên hơn 50 năm nay tôi chưa hề uống một viên thuốc cảm sốt nào”, giọng ông sang sảng giữa phố xá Sài Gòn.

Rồi ông kể những năm tháng chiến tranh leo thang ở miền Bắc, đoàn xiếc phải sơ tán khắp nơi từ Thái Bình, sang Nam Định, tận Tuyên Quang. “Khổ cực lắm nhưng thời đó ai cũng làm việc, phục vụ hết lòng vì nhân dân, vì đất nước”, ông tâm tình.

Họa sĩ Từ Hoa Lợi bên các bức vẽ truyền thần

Họa sĩ Từ Hoa Lợi bên các bức vẽ truyền thần – Ảnh: Đ.T

Vừa vẽ tranh vừa khóc

Năm 1962, họa sĩ Từ Hoa Lợi lập gia đình. Vợ ông – bà Tạ Thị Kim Dung là diễn viên Đoàn Xiếc Nhân dân trung ương, dáng người cao ráo, xinh đẹp. “Bà ấy thời đó là hoa khôi đoàn xiếc đấy, con gái cưng của ông tổ ngành xiếc VN – NSND Tạ Duy Hiển. Lấy được bà, ai cũng nói tôi phải tài hoa lắm”.

Sau ngày thống nhất, vợ chồng người chị là NSND Thái Minh Hiển và NSƯT Hồng Nga, cùng là diễn viên xiếc kỳ cựu gọi ông vào Sài Gòn lập nghiệp vì thời tiết trong đây rất tốt, không quá khắc nghiệt như miền Bắc. Nghe lời, ông cùng vợ vào đây. Đó là thời điểm năm 1989. Hai vợ chồng sống trên căn gác trọ trên đường Điện Biên Phủ. Hằng ngày, bất kể gió mưa, ông mang giá ra ngồi vẽ. “Lúc đó ảnh kỹ thuật số chưa phổ biến như bây giờ nên tôi sống được lắm. Bây giờ công nghệ phát triển vượt bậc nhưng cũng có nhiều người trong cả nước và cả Việt kiều, khách nước ngoài tìm đến tôi, bởi vẽ truyền thần đem lại cảm xúc nhiều hơn cho nhân vật, còn phục chế ảnh cũ bằng kỹ thuật photoshop vô hồn lắm, đôi khi không giống người trong ảnh”, ông nói.

Ông nhận định, nghề này không đam mê, thiếu nhẫn nại thì không thể làm được. Ông rất muốn truyền lại cho thế hệ sau nhưng tìm mãi chẳng thấy ai ham thích nữa. “Cách đây 7, 8 năm có vài đứa học trò theo học. Tôi dạy rất tường tận, ra nghề hẳn hoi. Được vài năm chúng bỏ hết, làm nghề khác cả rồi. Có lẽ tuổi trẻ quá nhiều cơ hội, cứ so đo với bạn bè cùng lứa nên khó mà đeo đuổi, chung thủy với một nghề như thế hệ chúng tôi ngày xưa”, giọng ông thoáng buồn.

Để có một bức vẽ truyền thần đẹp, theo ông Từ Hoa Lợi, ngoài năng khiếu bẩm sinh phải tập trung cao độ khi làm việc. Bởi, chỉ lơ là một chút thôi tác phẩm khi hoàn thành sẽ vô hồn. Thuốc bột vẽ tranh truyền thần được ông đặt mua từ Trung Quốc với giá cực đắt: 1 kg lên đến vài chục triệu đồng nhưng có thể để dành vẽ trong 10 năm. Với giá từ 400.000 đến 600.000 đồng cho bức họa cỡ 20 cm x 30 cm hoặc 30 cm x 40 cm, nhiều khách hàng đến với ông cho là rẻ nếu so với một bức ảnh chụp rồi ép gỗ lamina thường thấy. Ông thường vẽ mất cả ngày cho một bức chân dung.

“Cách đây 3 năm, một gia đình ở Củ Chi đánh xe hơi đến tận đây tìm tôi, chở tôi về trên đó với mong muốn tôi thực hiện một bức ảnh cho ông cụ đã mất gần 50 năm, nếu còn sống đã hơn 100 tuổi. Con cháu thờ phụng mà bàn thờ không có bức ảnh nào vì ngày xưa gia đình nghèo khó quá, đâu biết chụp ảnh lưu niệm là gì. Tôi bảo tập trung 12 con cháu lại, xác định người nào có nét giống ông cụ nhất, rồi người nhà tả lại cho tôi nghe về gương mặt người đã khuất. Nghe xong, tôi ngồi phác họa bút chì trước, sau đó hoàn tất một bức hoàn chỉnh khác. Ôm bức họa trước ngực, người con trai trưởng của cụ nay đã 90 tuổi bật khóc. Ông luôn miệng cám ơn tôi. Tôi bảo không có gì đâu mà tự nhiên hai hàng nước mắt cũng tuôn trào. Cảm động lắm. Tôi đâu ngờ cái nghề nhỏ nhặt của mình lại có thể đem lại hạnh phúc vô bờ bến cho người khác như thế”, ông kể bằng giọng bồi hồi.

Từ Hoa Lợi có 3 người con, 2 trai, 1 gái nay đã thành đạt hiện đang sinh sống ở Hải Phòng. Con lớn là kiến trúc sư, con trai thứ là kỹ sư xây dựng còn con gái út tốt nghiệp đại học ngoại thương. Vợ ông đột ngột qua đời cách đây 7 năm. Họa sĩ lão làng giờ đây lủi thủi một mình với giá vẽ trong căn phòng trọ. Ông nói buồn lắm, giờ chỉ lấy công việc làm niềm vui. “Thế sao ông không về lại quê nhà, sống với con cháu, nghỉ ngơi cho khỏe tuổi già?”, tôi hỏi. “Về sao được khi tôi đã gắn bó với nơi này 23 năm dài. Có nhớ con cháu thì về thăm. Sài Gòn là nơi ai cũng có thể tìm ra cơ hội cho đời mình miễn sao sống hết lòng với nghề nghiệp đã chọn. Thành phố này giúp mang lại niềm vui cho tôi khi tuổi xế chiều, tại sao phải bỏ nó?”.

Đỗ Tuấn (báo Thanh Niên)

Categories: Sài Gòn kỳ nhân | Leave a comment

Nửa thế kỷ thiết kế sân khấu

Họa sĩ khiêm nhường

Ông cười nói rõ nếu lấy nghệ danh Thiên Tài sợ người ta nói mình “lối” nên phải thêm vào họ Trịnh như tên trong khai sinh luôn. “Sau này đi vẽ pa nô, bảng hiệu sân khấu, tôi chỉ lấy biệt danh T3, tức Trịnh Thiên Tài và chỉ những người trong giới biết thôi”.

Cha của họa sĩ Thiên Tài là soạn giả, nhà giáo nổi tiếng của Nam kỳ: Trịnh Thiên Tư, người từng viết sách Cổ nhạc Nam phần, Ca nhạc cổ điển điệu Bạc Liêu từ những năm đầu thập niên 1960.

Image

Họa sĩ Thiên Tài – Ảnh: Đ.T

“Ngày nhạc sĩ Cao Văn Lầu qua đời, cha tôi kêu gọi anh em nghệ sĩ ở Sài Gòn giúp đỡ cho gia đình nhạc sĩ. Ông gặp ký giả Bảy Cao, nói báo phải có một bài rất xúc động về cuộc đời người đã đặt nền móng cho vọng cổ miền Nam với bài Dạ cổ hoài lang nổi tiếng. Ký giả Bảy Cao sau đó đã viết bài rồi mang tiền của nghệ sĩ đến gia đình nhạc sĩ tận Bạc Liêu – cũng là quê tôi. Hậu tổ – nhạc sư Hai Khị (thầy của nhạc sĩ Cao Văn Lầu) là anh ruột của bà nội tôi, cũng là người góp phần làm nên khúc vọng cổ xưa. Nhà sư Thích Thường Chiếu rất am tường nhạc lễ, ông có công hỗ trợ lời ca, tiếng hát cho ca cổ Bạc Liêu nói riêng và miền Nam nói chung. Năm 1935, cha tôi đặt tên bài Dạ cổ hoài lang thuộc thể loại “vọng cổ” với ý nghĩa “trông về truyền thống xưa”. Bài vọng cổ xuất phát từ Bạc Liêu là như thế”, họa sĩ Thiên Tài cho biết. Ông nói thêm, giờ đây tên hậu tổ Hai Khị, sư Thích Thường Chiếu, ông Trịnh Thiên Tư đều được đặt tên đường ở thị xã Bạc Liêu để tưởng nhớ công ơn những người hợp cùng nhạc sĩ Cao Văn Lầu tạo ra bài vọng cổ ban đầu chỉ 2 nhịp. Sau này, bài vọng cổ được nhiều nhạc sĩ miền Nam chuyển thành 4, 8 nhịp, rồi 16 nhịp để bây giờ đến 32, 64 nhịp.

Năm 1960, họa sĩ Trịnh Thiên Tài lên Sài Gòn học tại Trường Sư Vạn Hạnh và nộp đơn thi vào Trường Mỹ thuật Gia Định. Ông đậu ngành điêu khắc rồi làm nghề vẽ tranh, vẽ pa nô, nặn tượng sau khi tốt nghiệp. Trước 1975, ông từng đoạt nhiều giải thưởng về văn học nghệ thuật. Đến năm 1981, ông chính thức gắn bó với sân khấu, phim ảnh bằng nghề họa sĩ trang trí mỹ thuật.

Thủy chung với nghề nghiệp

Ngày hòa bình, Trịnh Thiên Tài đưa vợ con đi kinh tế mới tận Tân Hòa Tây, Cai Lậy, Tiền Giang. “Chịu không nổi, được 5 năm tôi phải mò về Sài Gòn kiếm sống. Tôi chỉ biết cầm cọ mà lúc đó phải cầm cuốc, cầm cày làm sao nuôi vợ con được. Về thành phố, không nhà, tiền mua chiếc xe đạp đi làm còn không có, tôi phải cuốc bộ”, ông nhớ lại.

Vậy mà ông vẫn kiên trì nhận từng tấm pa nô quảng cáo về nhà trọ ngồi vẽ. Lâu dần, thấy biệt tài của ông, nhiều ông bầu gánh cải lương bắt đầu tìm đến. “Tôi vẽ quảng cáo cho các đoàn huyện đến tỉnh, rồi Sài Gòn như Kim Giác, Bảo Long, đoàn của bầu Tấn, Thanh Tú – Trang Bích Liễu, Trọng Nhân, bà bầu Thắm… rồi đoàn cải lương Sài Gòn 2, Sài Gòn 3, Trần Hữu Trang. Nhờ thế mà đời sống đỡ dần lên, con cái có tiền đi học. Tôi ra tận Q.Tân Phú bây giờ mua miếng đất, lúc đó xung quanh chỉ là ruộng lúa, ao rau muống, dựng tạm cái nhà lá để ở. Bây giờ vùng này sầm uất, nhà cửa san sát, đường sá chằng chịt”.

Tính đến nay, họa sĩ Trịnh Thiên Tài đã thiết kế mỹ thuật cho hơn 200 phim cải lương tuồng cổ. Ông là người đầu tiên vẽ hình nghệ sĩ cải lương lên băng rôn treo trước rạp hát và dọc các con đường ở Sài Gòn. “Trước tôi, nhiều họa sĩ vẽ quảng cáo bảng hiệu chỉ viết tên vở diễn kèm tên nghệ sĩ thôi. Tôi mạnh dạn vẽ gương mặt Bạch Tuyết, Kim Thoa, Ngọc Huyền… lên băng rôn. Ai nhìn cũng khen đẹp và thích lắm. Từ đó, ở Sài Gòn mới có phong trào vẽ hình nghệ sĩ lên bảng quảng cáo. Ban đầu tôi vẽ bột màu pha a dao trên vải bố. Sau đến sơn nước, rồi sơn dầu phủ dạ quang, dùng vải may quần tây loại dày để vẽ, chống ánh sáng xuyên qua”, họa sĩ say sưa nói.

Image

Nghệ sĩ Thanh Tòng và Hà Phương trong một vở cải lương do họa sĩ Thiên Tài thiết kế sân khấu – Ảnh: NV cung cấp

Nổi tiếng trong giới sân khấu, họa sĩ Thiên Tài được nhiều đoàn phim mời về cộng tác. Ông làm thiết kế mỹ thuật phim truyền hình đầu tay là Công tử Bạc Liêu, rồi Cuộc phiêu lưu kỳ thú, Trái tim mùa đông, Kính vạn hoa, Cha dượng, Hương cỏ dại… Chưa hết, ông còn vào vai phụ trong một số phim như Kính vạn hoa, Hương cỏ dại, Cổ tích VN… Vì có tài điêu khắc nên họa sĩ Thiên Tài được giới tổ chức chương trình đặt cho biệt danh là “vua mốp” bởi ông có thể cắt gọt ra đủ thứ từ cái bàn, cái ghế đến ô tô, thậm chí máy bay trực thăng. “Live show Đan Trường cách đây hơn 10 năm tôi đã làm một chiếc trực thằng bằng mốp có chong chóng quay hẳn hoi, bay trên Nhà thi đấu Phan Đình Phùng, khán giả thích lắm. Tôi còn thiết kế sân khấu, đạo cụ nhiều live show cho Kim Tử Long và nhiều nghệ sĩ khác nữa”, ông cười.

Tài hoa nhưng không vì thế mà làm ra vẻ ngôi sao để nâng giá, họa sĩ Thiên Tài được nhiều người trong giới quý mến là vì thế. Ông làm việc rất có trách nhiệm. “Không bao giờ tôi nhận hợp đồng rồi giao cho đệ tử làm. Chính tay tôi vẽ từng tấm bảng hiệu, chế tác từng món đạo cụ. Mình làm việc ngoài chuyện kiếm tiền còn uy tín, danh dự nữa”.

Tuổi 71 đến với ông giữa bộn bề công việc. “Tôi đang làm thiết kế mỹ thuật cho phim Khúc Nam Ai, dài 30 tập, do Hồ Ngọc Xum đạo diễn. Tuổi này còn bận rộn như thế là vui rồi, tôi không mong gì hơn”.

Họa sĩ Thiên Tài có 6 người con cả trai lẫn gái. Tất cả đều theo nghề của cha, người là họa sĩ thiết kế mỹ thuật cho phim, người theo con đường hội họa và một con gái theo đoàn phim, trang điểm, hóa trang cho diễn viên. “Tôi chỉ mong nước mình có được một phim trường đúng nghĩa với cây cối, sông suối, ao hồ… để họa sĩ thiết kế mỹ thuật làm việc, chứ không phải dùng nhà kho cũ chứa đạo cụ gọi là phim trường như hiện nay. Sài Gòn là vùng đất lành. Người Sài Gòn tốt bụng lắm, lấy nghĩa tình mà sống với nhau. Dù cải lương xuất phát từ miền Tây Nam bộ nhưng Sài Gòn mới là nơi làm cho nó thăng hoa. Mong sao cải lương vẫn còn mãi trong lòng người Việt và người Sài Gòn”.

Đỗ Tuấn (Báo Thanh Niên)

Categories: Sài Gòn kỳ nhân | Leave a comment

Nhà báo trăm tuổi

Ngày nắng cũng như mưa, nhà báo – cư sĩ Tống Hồ Cầm vẫn lặng thầm đến tòa soạn tuần báo Giác Ngộ làm việc. Chỉ vài năm nữa thôi, ông chạm tuổi 100.

Chứng nhân lịch sử

Tuổi 95 vẫn không làm ông mất đi sự nhạy bén, am hiểu về nghề của một người đã có hơn 70 năm theo nghiệp báo chí. Từ năm 1940, ông là phóng viên cho tờ An Nam Phật Học có trụ sở đặt tại Huế, do cư sĩ Lê Đình Thám chủ biên. Đây là tờ báo có nhiều bài viết liên quan đến Phật giáo và khơi gợi lòng yêu nước của nhân dân nên bị Pháp tìm mọi cách đình bản. Với bút danh Tống Anh Nghị, ông cũng viết bài cho nhiều báo và tạp chí khác như: Viên Âm, Phật giáo vân tập, Phương tiện… Đặc biệt, năm 1951, ông đảm nhiệm chức vụ Tổng thư ký tòa soạn tờ Từ Quang của Tổng hội Phật học Nam Việt từ thập niên 1950-1960 đến ngày hòa bình tháng 4.1975.

Nhà báo lão thành Tống Hồ Cầm

Nhà báo lão thành Tống Hồ Cầm – ẢNH: Đ.T

Nhà báo Tống Hồ Cầm sinh tại làng Hương Cần, huyện Hương Trà, Thừa Thiên-Huế. “Cha tôi lúc đó làm trong Sở Kiểm soát Tài chính Đông Dương của Pháp nên mới có tiền cho tôi ra Hà Nội học hành. Năm 1937, tôi theo học trường Thăng Long, thầy dạy môn sử chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, giáo sư Đặng Thai Mai dạy môn văn”, ông Hồ Cầm vẫn còn nhớ kỷ niệm về thời thanh niên.

Cuối thập niên 1940, ông quy y, lấy pháp danh Tâm Bửu. Tại Đại hội đại biểu Hội VN Phật học Thừa Thiên-Huế, ông giữ trách nhiệm Chánh thư ký. Sau đó, năm 1951, ông là Phó tổng thư ký Tổng hội Phật giáo VN.

Những năm 1940-1950, nhà báo – cư sĩ Tống Hồ Cầm từng nhiều lần vào tù ra khám do tham gia hoạt động cách mạng. Chính quyền Pháp liên tục theo dõi và bắt bớ ông. Năm 1953, ông đưa gia đình vào Sài Gòn sinh sống. Trước đó, vào năm 1950, ông tham dự sự kiện thành lập Hội Phật học Nam Việt tại Sài Gòn, sau này hội đã xây chùa Xá Lợi vào năm 1956 làm trụ sở chính.

Ngày 1.1.1976, khi tuần báo Giác Ngộ ra số đầu tiên, nhà báo Tống Hồ Cầm làm tổng trị sự, rồi phó tổng biên tập đến hôm nay. Gặp ông tại văn phòng làm việc, tôi quá bất ngờ và ngạc nhiên khi trò chuyện với nhà báo lão thành của làng báo VN bởi ông vẫn còn nhớ như in từng giai đoạn lịch sử của đất nước, đặc biệt những năm tháng nhân dân Sài Gòn, đặc biệt là tăng ni Phật tử sục sôi đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm. Sau sự kiện nhiều tăng ni Phật tử bị cảnh sát lùng bắt đêm 20.8.1963, ông bị chính quyền Sài Gòn đẩy vào ngục.

Lương tâm thanh thản

Hơn 60 năm làm việc và sinh sống cùng gia đình tại Sài Gòn, ông nói bằng giọng rặt Nam bộ rằng mình đã là dân phương nam từ lâu. “Tôi yêu mảnh đất đầy khí phách này. Con người nơi đây khẳng khái, bộc trực nhưng không thiếu lòng nhân ái. Chỉ cần chén trà, chung rượu có thể trở thành bạn tâm giao. Tôi từng đến nhà bạn, nghèo lắm nhưng vẫn sang hàng xóm, bà con mượn tiền mua rượu, mua con gà về đãi bạn”.

Nhà báo Tống Hồ Cầm (giữa) và bạn bè

Nhà báo Tống Hồ Cầm (giữa) và bạn bè tại chùa Từ Đàm – Huế thập niên 1950 – Ảnh: NV cung cấp

20 năm làm Hội thẩm nhân dân tại Tòa án nhân dân TP.HCM kể từ 1975, ông đã cứu rất nhiều trường hợp mà theo ông có lẽ nhờ thế mình mới sống lâu, sống khỏe và lương tâm thanh thản đến hôm nay. “Tôi còn nhớ có trường hợp một nhân viên giữ kho lấy cắp 2 hộp sữa bị bắt và đưa ra tòa. Tìm hiểu hoàn cảnh được biết anh này vì quá nghèo, vợ mất sữa trong khi con đói đành làm liều. Tôi đưa ý kiến tòa nên xét xử phải có tình có lý. Cuối cùng người giữ kho được giảm nhẹ hình phạt rất nhiều”.

Nhà báo Tống Hồ Cầm từng đảm nhiệm nhiều trọng trách khác như Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN và TP.HCM, Phó viện trưởng Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM trong thời gian dài. Thành ủy TP.HCM đã xếp ông là nhân sĩ yêu nước và đã nhận rất nhiều huân, huy chương do nhà nước trao tặng.

Mấy mươi năm dài phụng sự đất nước, ông nói đó là bổn phận và trách nhiệm của một công dân. Lập gia đình từ 70 năm trước, có 11 người con, nhà báo lão thành cho rằng cuộc đời mình quá đủ đầy. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Thanh Hương qua đời gần 10 năm là mất mát lớn về tinh thần. “Năm nay tôi vừa lo tang ma cho con trai lớn 70 tuổi – Việt kiều Mỹ. Thật đau lòng nhưng được niềm an ủi là nó nằm xuống nơi đất Mẹ. Giờ các con vẫn thay phiên nhau chăm lo cho tôi. Như thế mãn nguyện lắm rồi. Tuổi này tôi còn làm việc, còn cống hiến cho xã hội là niềm hạnh phúc mà không phải ai cũng có được. Tôi muốn nhắn nhủ đến các nhà báo trẻ – đồng nghiệp của tôi rằng khi đã chọn nghề này thì phải có cái tâm thật sáng. Trung thực, chính xác là kỹ năng hàng đầu mà một nhà báo cần có”.

Mỗi tuần, ông vẫn đều đặn đi bơi, không rượu chè, thuốc lá, thỉnh thoảng làm thơ. Ông nói mình phải sống qua tuổi bách niên để còn cơ hội nhìn thấy đất Sài Gòn ngày một thay da đổi thịt.

Đỗ Tuấn (báo Thanh Niên)

Categories: Sài Gòn kỳ nhân | Leave a comment

Blog at WordPress.com.