Công trình

Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn

Trường Trung Học Phổ Thông Lê Quý Đôn là một trường trung học công lập xưa nhất Sài Gòn, được thành lập năm 1874, với tên gọi ban đầu Collège Chasseloup-Laubat.

Trường Collège Chasseloup-Laubat năm 1905. Ảnh: Internet

Trường Collège Chasseloup-Laubat năm 1905. Ảnh: Internet

Buổi đầu thành lập

Sau khi chiếm được toàn cõi Nam Kỳ, ngày 14 tháng 1 năm 1874, Thống đốc Nam Kỳ, Chuẩn Đô đốc (Contre-amiral) Pháp Jules François Emile Krantz (1821-1914) đã ký nghị định thành lập một ngôi trường trung học tại Sài Gòn nhằm phục vụ nhu cầu đào tạo con em những thực dân người Pháp tại Sài Gòn. Chương trình giảng dạy theo chính quốc, dạy từ tiểu học đến tú tài (chương trình Pháp). Trường sở được khởi công xây dựng ngay vào năm 1874 và hoàn tất vào năm 1877.

Lúc đầu trường có tên Collège Indigène, có nghĩa là trung học bản xứ. Bấy giờ trường chưa có tên chính thức nên gọi bằng tên này, còn người dân gọi là trường Khải Tường vì nằm trong khu đất của chùa Khải Tường cũ. Không lâu sau, cái tên Collège Chasseloup-Laubat được dùng thay thế tên cũ là vì tên này đặt theo tên của ông Francois Marquis de Chasseloup-Laubat (1754-1833), là Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại (Bộ Thuộc địa) thời điểm ấy. Mặc dù là một trường dành cho người có quốc tịch Pháp nhưng trường còn có tên là Bổn Quốc Sài Gòn, khác với các trường bản xứ khác.

Trường dành cho học sinh người Pháp và bản xứ có quốc tịch Pháp Ảnh: Internet

Trường dành cho học sinh người Pháp và bản xứ có quốc tịch Pháp
Ảnh: Internet

Cũng như mục đích thành lập trường là để phục vụ nhu cầu đào tạo con em của thực dân Pháp, thời gian đầu đi vào hoạt động, trường chỉ nhận học sinh người Pháp. Việc mở rộng nhận học sinh người Việt vào đầu thế kỷ 20. Nói là học sinh Việt nhưng phải có quốc tịch Pháp mới được vào học. Lúc bấy giờ trường cũng được chia làm hai khu riêng biệt nhưng đều học chung chương trình Pháp và thi tú tài Pháp: khu dành cho học sinh Pháp (còn gọi là Quartier Européen) và khu dành cho học trò Việt là Quartier indigène (khu bản xứ). Học sinh Việt được học tiếng Việt.

Buổi sinh hoạt của học sinh trong sân trường. Ảnh: Internet

Buổi sinh hoạt của học sinh trong sân trường. Ảnh: Internet

Hoạt động yêu nước

Vào năm 1926, những học sinh người Việt đã viết lên bảng 4 chữ A.B.L.F, viết tắt câu “A bas les Français” (nghĩa là “Đả đảo thực dân Pháp”) trong một lần bãi khoá để tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh.

Phân hiệu Collège de Cochinchine

Ngày 28 tháng 11 năm 1927, Toàn quyền Đông Dương G. Gal ra một nghị định thiết lập tại Chợ Quán một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat dành cho học sinh người bản xứ lấy tên là Collège de Cochinchine. Phân hiệu này được đặt dưới sự điều hành của Ban Giám đốc Trường Chasseloup Laubat và môt giáo sư phụ trách tổng giám thị của phân hiệu.

Ngày 11 tháng 8 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương tạm quyền René Robert ký nghị định số 3116 gồm 6 điều, thành lập tại Chợ Quán, kể từ kỳ tựu trường 1928-1929 một trường Cao đẳng Tiểu học Pháp bản xứ, chuyển giao phân hiệu tạm thời với trên 200 học sinh của Collège Chasseloup Laubat nói trên vào trường này, có sát nhập một hệ Trung học Đệ nhị cấp bản xứ (Lycée) để thành lập một trường mới, về sau có tên là Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký, hay trường Petrus Ký.

Thời VNCH

Sau năm 1954, với dụng ý tránh gợi nhớ thời thuộc địa, trường được đổi tên là trường Jean Jacques Rousseau (tên một nhà trí thức Pháp trong phong trào “Ánh Sáng” thế kỷ XVIII) dạy chủ yếu là học sinh người Việt, nhưng vẫn do người Pháp quản lý. Đến 1967, trường được trả lại cho Việt Nam và trở thành Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Sau 1975, trường Lê Quý Đôn vẫn được giữ tên như cũ.

Kiến trúc

Khuôn viên

1. Cổng chính vào sân trường – 2. Lối đi bộ – 3. Lối đi cho xe đạp và xe máy – 4. Văn phòng hiệu trưởng – 5. Sân các lớp tiểu học
Hình ảnh được chụp lại từ Google Earth và chú thích theo Georges Nguyen Cao Duc, thành viên Hội Ái hữu cựu học sinh trường Lê Quý Đôn) tại Pháp.

Trải qua hơn một thế kỷ, kiến trúc ban đầu của ngôi trường vẫn còn gân như nguyên vẹn, gồm bốn dãy nhà cao hai tầng ghép lại có hình chữ “khẩu”. Với lối kiến trúc mang đậm chất Tây Âu, trường sở được xem như một kiến trúc cổ có lịch sử văn hóa lâu đời, vẫn giữ gìn được nét truyền thống cổ kính mặc dù đã được trùng tu, sửa chữa. Dựa trên nền kiến trúc cổ, hiện tại trường sở đã xây thêm một số công trình phụ gồm nhà luyện tập thể thao và 10 phòng học kiểu mới. Tính truyền thống và hiện đại được nhà trường chú ý ngay trong khâu thiết kế và trang trí, vì thế ngôi trường Lê Quý Đôn vẫn mang đậm nét cổ kính.

Một số giáo viên và học sinh tiêu biểu thời Pháp

Hình cựu học sinh khoa Triết năm 1954. Ảnh do bác Nguyen Huu Khanh cung cấp. Nguồn: diendanlequydon.com

Hình cựu học sinh khoa Triết năm 1954.
Ảnh do bác Nguyen Huu Khanh cung cấp.
Nguồn: diendanlequydon.com

Nhà văn hóa, học giả Vương Hồng Sển đã từng học ở ngôi trường danh giá Collège Chasseloup-Laubat. Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire (cao đẳng tiểu học), ông làm chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi trong 20 năm (từ 1923 đến 1943), trong đó có Dinh Thống đốc Nam Kỳ. Nhà cách mạng ở đầu thế kỷ 20 của Việt Nam Nguyễn An Ninh trước theo học ở Trường Taberd, Collège Mỹ Tho sau đó học tại Trường Collège Chasseloup-Laubat. Nhờ tốt nghiệp trung học với bằng ưu nên ông ra Hà Nội học Cao đẳng Y Dược và được miễn chuẩn bằng tú tài.

Trường Collège Chasseloup-Laubat còn là nơi đào tạo một người từng tham gia đánh phát xít Đức ở châu Âu trong đại chiến thế giới thứ nhất (1914-1918). Đó là ông Cao Triều Phát (1889-1956). Thuở nhỏ ông Phát học tiểu học tại quê nhà Bạc Liêu, sau lên Sài Gòn theo học tại trường này. Nhà trí thức yêu nước ở miền Nam nửa đầu thế kỷ 20 và đồng thời là một kỹ sư người bản xứ đầu tiên của Việt Nam và toàn cõi Đông Dương. Đó là ông Lưu Văn Lang (1880-1969) cũng từng học ở ngôi trường lâu đời nhất Sài Gòn. Ông Lang thi đậu tú tài 2 của Pháp với điểm số xuất sắc và nhận học bổng học tại Trường École Centrale de Paris (trường bá nghệ trung ương Pháp lúc bấy giờ). Năm 1904, ông tốt nghiệp với tấm bằng ưu, xếp hạng thứ 8/250 sinh viên và trở thành kỹ sư đầu tiên ở Đông Dương là người bản xứ.

Ngoài ra còn có Trịnh Công Sơn (nhạc sĩ tân nhạc nổi tiếng), Trần Văn Giàu (nhà hoạt động cách mạng, nhà khoa học, nhà nghiên cứu lịch sử, triết học và là nhà giáo Việt Nam), Dương Văn Minh (Tổng Thống cuối cùng của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa),.v..v..

(Tổng hợp)

Advertisements
Categories: Trường học | Tags: | Leave a comment

Trường nữ trung học Gia Long

Trường Nữ trung học Gia Long còn được gọi là  trường nữ sinh Áo Tím nay là trường trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai  tọa lạc tại 275, Điện Biên Phủ, Q3, là một trường trung học phổ thông công lập ở Sài Gòn. Được thành lập từ năm 1913, cho đến nay trường Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những trường phổ thông lâu đời nhất của nền giáo dục Việt Nam.

Trường Áo Tím - Gia Long - Minh Khai

Trường Áo Tím – Gia Long – Minh Khai

Thời Pháp thuộc

Khoảng đầu thế kỷ 20, nền giáo dục ở Việt Nam còn mang tính chất Nho giáo nên ít chú trọng đến giáo dục nữ giới. Xuất phát từ ý định tha thiết muốn xây dựng một nền giáo dục cho nữ giới, năm 1908, nghị viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ Lê Văn Trung cùng vợ của Tổng Đốc Phương và một số nhân sĩ trí thức đã đề nghị chính quyền thực dân Pháp thành lập một ngôi trường Sơ Học Cao Đẳng (bậc tiểu học) dành cho nữ.

Năm 1909, đơn đã được Hội Đồng Quản Hạt chấp thuận nhưng chưa có kinh phí để thực hiện. Mãi đến ngày 6 tháng 11 năm 1913, lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng trường Nữ Học Đường Sài Gòn mới được cử hành. Trường được xây dựng trên một khu đất rộng ở đường Legrand de la Liraye, sau đổi tên là đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ), bên phải là đường Bà Huyện Thanh Quan, bên trái là Đoàn Thị Điểm (Trương Định ngày nay), phía sau là Ngô Thời Nhiệm, thuộc thành phố Sài Gòn.

Hai năm sau, ngày 19 tháng 10 năm 1915, Toàn Quyền Ernest Nestor Roume và Thống Đốc Courbell làm khánh thành. Trong buổi lễ trọng thể này, ban tổ chức đã chọn màu tím làm màu áo đồng phục cho nữ sinh, tượng trưng đức tính đoan trang, kín đáo và khiêm nhường của người thiếu nữ Việt Nam. Từ đó, trường thường được gọi là “Trường Áo Tím”.

Khóa đầu tiên trường tuyển 42 nữ sinh, Các học sinh đầu tiên của Trường thuộc những gia đình sống ở Sài Gòn và các vùng phụ cận. Dần dần, có nhiều học sinh từ các tỉnh lên học nên Trường bắt đầu có nội trú.

Trường đào tạo thành nhiều lớp: Đồng ấu (Enfantin), Cao đẳng (Supérieur). Năm cuối Sơ học (CEP), học sinh phải thi lấy Chứng chỉ Căn bản Giáo dục sau khi tốt nghiệp những lớp cao cấp.

Trong những năm 1917 – 1922, vì số lượng học sinh gia tăng, trường xây dựng thêm một tòa nhà thứ hai song song với tòa nhà cũ.. Các phòng trên lầu được dùng làm phòng ngủ nội trú cho các học sinh xa nhà. Cách một sân cỏ, là một dãy nhà sau, thấp, sát với vách tường rào. Ở đó có bệnh thất, các lớp nữ công gia chánh, phòng giặt và xếp quần áo học sinh nội trú, cuối cùng là nhà bếp.

COLLÈGE DES JEUNES FILLES INDIGÈNES (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ)

Collège Des Jeunes Filles Indegènes (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ)

Tháng 9 năm 1922, Toàn Quyền Albert Sarraut cắt băng khánh thành Ban Trung Học Nữ Học Đường. Một phiến đá bằng cẩm thạch khắc chữ Collège Des Jeunes Filles Indigènes (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ) được dựng lên trước cổng trường, tuy nhiên trường vẫn được biết đến nhiều hơn với cái tên Trường Nữ Sinh Áo Tím.

Bà Lagrange, vợ một ông Chánh Tham Biện người Pháp, được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng ban trung học. Trường mở từ lớp đệ thất niên (lớp 6 bây giờ) đến lớp đệ tứ niên (lớp 9 bây giờ), chỉ thu nhận nữ sinh có bằng Sơ Học và kỳ thi tuyển vào trường.

Lúc đầu, các nữ sinh đậu vào lớp đệ nhất (lớp 12 bây giờ) thì học ban Sư Phạm, sau bốn năm ra làm giáo viên. Hoặc theo ban Phổ Thông. Cả hai ban đều học một chương trình để tốt nghiệp lấy bằng Thành Chung (DEPSI).

Từ lớp Dự Bị (Préparatoire) tức là lớp Hai bây giờ, học sinh đã bắt đầu học Pháp Văn. Ban Trung Học hoàn toàn được giảng dạy bằng tiếng Pháp. Mỗi tuần chỉ có hai giờ Việt Ngữ. Trong trường học sinh bị bắt buộc phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Mỗi lần bị bắt gặp nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt, phải chịu phạt một hay hai xu. Nhưng hình phạt không mấy khi thi hành.

Tuy trường khi này do người Pháp quản lý nhưng phong trào đấu tranh chống thực dân trong học sinh vẫn âm ỉ, ít nhất đã hai lần nữ sinh trường xuống đường. Lần thứ 1 vào đầu năm 1920,  khi một giáo viên người Pháp yêu cầu học sinh người Việt phải nhường ghế ở hàng đầu cho học sinh người Pháp ngồi. Lần thứ 2 vào năm 1926, nhân đám tang cụ Phan Chu Trinh, một phong trào bãi khóa lan rộng từ Nam chí Bắc để tỏ lòng thương tiếc nhà cách mạng lão thành. Học sinh trường Áo Tím nhiệt liệt hưởng ứng đưa đến kết quả một vài nữ sinh bị bắt và phải đuổi khỏi trường.

Năm 1940, quân đội Nhật chiếm đóng trường trong lúc học sinh nghỉ hè. Cũng trong năm này, trường đổi tên thành Collège Gia Long (Cao đẳng tiểu học Gia Long), rồi Lycée Gia Long (Trường trung học đệ nhị cấp Gia Long).

Năm 1941:  tất cả thầy trò đều phải tản cư về trường tiểu học Đồ Chiểu (Tân Định). Ngay khi Nhật trao trả lại trường thì quân đội Anh tiếp thu làm trại lính, kéo dài trong 6 năm.

Năm 1947: khi được người Anh trao trả, trường bị hư hại nhiều đến nỗi vị hiệu trưởng lâm thời là cô Mailleret phải vận động mạnh thường quân quyên góp tài chính để lo việc tu sửa.

Năm 1949: trường lại được mở rộng: một tòa nhà hai tầng được xây mới ở đường Bà Huyện Thanh Quan để đáp ứng số lượng học sinh ngày càng tăng. Cũng trong năm 1949, nữ sinh trường cùng với nam sinh trường Trương Vĩnh Ký tổ chức bãi khóa kỷ niệm ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa dẫn đến việc trường bị nhà cầm quyền cho đóng cửa.

Dãy Bà Huyện Thanh Quan

Dãy Bà Huyện Thanh Quan

Thời Quốc Gia Việt Nam

Năm 1950, sau một cuộc đấu tranh dài hơi có sự góp sức của đông đảo học sinh các trường khác ở khắp vùng Sài Gòn – Gia Định (trong số ấy có nhiều học sinh đã hy sinh, như Trần Văn Ơn của trường Trương Vĩnh Ký), trường được mở cửa lại và đánh dấu một sự kiện lớn: cô Nguyễn Thị Châu, cựu nữ sinh Áo Tím, là vị giáo sư Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm vào chức hiệu trưởng; đó là một niên học đáng ghi nhớ trong lịch sử của trường (Cô Châu qua đời tại Pháp năm 1996)

Đến 1952, chương trình giáo dục Việt dần thay thế chương trình giáo dục Pháp; nữ sinh phải học cả hai ngoại ngữ là Anh – Pháp song song. Kỳ thi tuyển vào trường rất khó và được đem so sánh với kỳ thi vào trường dành cho nam là Lycée Petrus Ký với số học sinh tham dự đến từ khắp nơi trong miền Nam: Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, Tân An…

Năm 1953, đồng phục áo dài tím được thay thế bằng áo dài trắng với phù hiệu bông Mai Vàng. Sau cùng là huy hiệu với tên trường Gia Long được thêu trên vải.

Thời Việt Nam Cộng Hòa

1954, chính quyền Việt Nam ra lệnh dùng tiếng Việt trong mọi cơ sở của người Việt và đương nhiên cả trong ngành giáo dục. Trong hệ thống mới, tiếng Anh, tiếng Pháp trở thành ngoại ngữ. Tên trường được gọi chính thức là Nữ trung học Gia Long.

Trường Nữ trung học Gia Long thời VNCH

Trường Nữ trung học Gia Long thời VNCH

Năm 1964 trường bỏ nội trú. Những dãy lầu từng được dùng làm nơi cư ngụ cho các học sinh nội trú được sửa thành lớp học. Buổi sáng có tất cả năm mươi lăm lớp học từ đệ Tứ đến đệ Nhất (lớp 9 đến lớp 12). Buổi chiều có tất cả bốn mươi lăm lớp từ đệ Thất đến đệ Ngũ (lớp 6 đến lớp 8). Tổng công sáng chiều trường có tất cả một trăm lớp học với tổng cộng 3000 học sinh. Trên bước đường phát triển, trường xây thêm: Thư Viện (1965), phòng Thí Nghiệm Lý Hóa (1966).

Năm 1967, mở rộng Giảng Đường nằm bên cạnh thư viện. Xây dựng sân khấu với mặt tiền chiếm hết chiều rộng của Giảng đường, đồng thời trang bị thêm đàn dương cầm. Cùng thời gian này, trường trang bị thêm Phòng nhiếp ảnh (nhưng chỉ hoạt động thời gian ngắn). Năm 1968, trường xây thêm hồ bơi đối diện thư viện.

Vào khoảng thập niên bảy mươi, kỳ thi tuyển vào đệ thất (lớp 6 ngày nay) mỗi năm có chừng bảy trăm nữ sinh trúng tuyển trong số hơn mười ngàn thí sinh. Một cuộc tuyển sinh vào hệ trung học trường vào khoảng năm 1971 được ghi nhận như sau: có tổng cộng 8000 học sinh ghi danh và thi tuyển nhưng chỉ có 819 đậu. Trường có độ hai trăm giáo sư và năm ngàn nữ sinh.

Thời gian này cũng là thời gian nữ sinh trường tham gia rất mạnh vào các phong trào phản chiến chống chiến tranh Việt Nam, trong đó một số học sinh đã tham gia trực tiếp vào Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, chính các phong trào như trên ở nữ sinh trường đã khiến cho nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng gọi nhiều thế hệ nữ sinh là: Áo Tím trên các nẻo đường đất nước.

Từ năm 1975 đến nay

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trường được chính quyền mới đổi tên thành Trường Phổ thông cấp 2-3 Nguyễn Thị Minh Khai.

Niên khóa 1978-1979: Trường giải thể cấp 2, thu nhận nữ sinh lẫn nam sinh, đổi tên thành Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai tới bây giờ.

Năm 2003, trường được đưa vào vào danh mục của 55 công trình đề nghị điều tra xác lập di tích kiến trúc cổ của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay, cách TP.HCM khoảng 20 cây số có một khu làng đặc biệt, được cất lên từ năm 2000. Đặc biệt vì khu làng mang tên Làng Gia Long (tên cũ của trường PTTH Nguyễn Thị Minh Khai) và bây giờ, là nơi các thế hệ thầy, cô học trò trường Áo Tím – Gia Long – Minh Khai có thể về đây sum họp khi lớn tuổi.

Trường Nguyễn Thị Minh Khai

Trường Nguyễn Thị Minh Khai

Danh Sách Các Vị Cựu Hiệu Trưởng  (từ lúc sáng lập cho tới năm 1975)

– Cô Lagrange: 1914-1920
– Cô Lorenzi: 1920-1922
– Cô Pascalini: 1922-1926
– Cô Saint Marty: 1926-1942
– Cô Fourgeront: 1942-1945
– Cô Malleret: 1945-1947
– Cô Dubois: 1947-1950
– Cô Nguyễn Thị Châu: 1950-1952
– Cô Huỳnh Hữu Hội: 1952-1963
– Cô Nguyễn Thu Ba: 1963-1964
– Cô Trần Thị Khuê: 1964-1965
– Cô Trần Thị Tỵ: 1965-1969
– Cô Phạm Văn Tất: 1969-1975

Hòn Ngọc Viễn Đông tổng hợp

Nguồn:

  • Cô giám học Nguyễn Ngọc Anh
  • Hội Ái Hữu Gia Long Âu Châu
  • Wikipedia
Categories: Trường học | Tags: , | 6 Comments

Trường Nữ Trung học Trưng Vương

Trường Nữ Trung học Trưng Vương (Sài Gòn) – Số 3A, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q1

Là một trường trung học công lập danh tiếng ở Sài Gòn trước 1975 dành cho nữ học sinh.

Trường Nữ Trung Học Trưng Vương Sài Gòn trước 1975

Trường Nữ Trung Học Trưng Vương Sài Gòn trước 1975

Lịch sử

Trường Trưng Vương Sài Gòn là hậu thân của ngôi trường Trưng Vương Hà Nội (*).

– Năm 1954: trường được thiết lập khi một số giáo viên học sinh trườngTrưng Vương Hà Nội di cư vào Sài Gòn sau Hiệp định Genève 1954.

– Ban giám đốc đầu tiên gồm có: bà hiệu trưởng Tăng Xuân An, bà giám học Nguyễn Thị Phú – và bà tổng giám thị Nguyệt Minh.

– 3 năm học đầu tiên trường phải học nhờ trường nữ trung học Gia Long (khóa buổi chiều).

– Đến năm 1957: trường Trưng Vương dời về số 3 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, nguyên trước đó là bệnh viện của Quân đội Pháp mang tên Quân y viện Coste, gần Sở Thú Sài Gòn và trường trung học Võ Trường Toản (Sài Gòn). Cấp trung học 7 năm. Hiệu trưởng là người Việt. Đồng phục áo dài màu trắng.

Nữ sinh Trưng Vương Sài Gòn trước 1975

Nữ sinh Trưng Vương Sài Gòn trước 1975

Hàng năm, trường đã chọn ra 2 nữ sinh đẹp nhất đóng vai Hai Bà Trưng để diễu hành trong ngày giỗ 6 tháng 2 Âm Lịch.

Hàng năm, trường đã chọn ra 2 nữ sinh đẹp nhất đóng vai Hai Bà Trưng để diễu hành trong ngày giỗ 6 tháng 2 Âm Lịch..

Hàng năm, trường đã chọn ra 2 nữ sinh đẹp nhất đóng vai Hai Bà Trưng để diễu hành trong ngày giỗ 6 tháng 2 Âm Lịch..

– Từ năm 1975 đến nay: khi chính thể Việt Nam Cộng hòa chấm dứt thì trường cũng đóng cửa, nhường chỗ cho Trường Phổ thông Trưng Vương cấp III cho cả nam lẫn nữ học sinh. Cấp trung học 3 năm với đồng phục cho nữ học sinh là áo dài trắng và đồng phục cho nam học sinh là áo trắng quần xanh.

(*) Đôi nét về trường Trung học Trưng Vương Hà Nội (Tiền thân của trường Trung học Trưng Vương Sài Gòn):

Trường Trung học cơ sở Trưng Vương Hà Nội, tiền thân là trường nữ sinh Đồng Khánh là một trường trung học cơ sở tại Hà Nội.

– Năm 1917: Trường được thành lập với tên gọi là trường nữ sinh Đồng Khánh ngay bên cạnh Hồ Gươm, Hà Nội, trường là một trong các cơ sở giáo dục lâu đời nhất của Hà Nội và Việt Nam.

– Trước năm 1945: trường là cơ sở đào tạo dành riêng cho nữ giới.

– Từ sau năm 1945: trường bắt đầu đào tạo chung cho cả nam và nữ sinh.

– Từ năm 1948: trường đổi tên thành trường Trưng Vương.

– Từ năm 1950: trường chuyển về đường Hai Bà Trưng, Hà Nội. Cấp trung học 7 năm. Hiệu trưởng là người Việt. Đồng phục áo dài màu lam.  

Trường Trưng Vương nổi tiếng với hệ thống lớp chuyên Toán cấp II, đây là nơi từng đào tạo nhiều tài năng Toán học của Việt Nam như giáo sư Hoàng Xuân Sính (nữ tiến sĩ khoa học ngành Toán đầu tiên của Việt Nam) hay Hoàng Lê Minh (học sinh Việt Nam đầu tiên đoạt huy chương vàng Olympic Toán quốc tế)

(Nguồn Wikipedia)

Categories: Trường học | Tags: , | 2 Comments

Trường Trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký

Tháp đồng hồ

Tháp đồng hồ

Buổi đầu thành lập

Sau sự ra đời của trường Collège Chasseloup-Laubat (năm 1874) và trường Collège de Jeunes Filles Indigèges (1915), chính quyền thuộc địa Nam Kỳ mở thêm trường bậc trung học thứ 3 tại Sài Gòn.

Năm 1925, kiến trúc sư Hebrard de Villeneuve được giao nhiệm vụ vẽ đồ họa xây cất cho ngôi trường mới tại Chợ Quán.

Ngày 28 tháng 11 năm 1927, Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne ra nghị định thiết lập tại Chợ Quán một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat dành cho học sinh người bản xứ lấy tên là Collège de Cochinchine. Phân hiệu này được đặt dưới sự điều hành của Ban Giám đốc Trường Chasseloup Laubat và một giáo sư phụ trách tổng giám thị của phân hiệu.

Trường Pétrus Ký lúc mới khởi công xây dựng

Trường Pétrus Ký lúc mới khởi công xây dựng. Ảnh: Internet

Năm 1928, khi các khu trường mới xây dựng xong, ngày 11 tháng 8 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương tạm quyền René Robin ký nghị định số 3116 gồm 6 điều thành lập tại Chợ Quán, kể từ kỳ tựu trường 1928-1929 một trường Cao đẳng Tiểu học Pháp bản xứ, chuyển giao phân hiệu tạm thời với trên 200 học sinh của Collège Chasseloup Laubat nói trên vào trường này, có sát nhập một hệ Trung học Đệ nhị cấp bản xứ (Lycée). Nhân dịp khánh thành tượng đồng của nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký, Thống đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse chính thức đặt tên trường là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký. Do đó, trường còn có tên gọi là Petrus Ký, và tên này được sử dụng trong gần 50 năm.

Thời Pháp thuộc

Năm 1940, Câu lạc bộ học sinh trường Pétrus Ký được thành lập. Câu lạc bộ đã tổ chức các hoạt động như văn nghệ, thể thao, cắm trại, với những sinh hoạt rất phong phú, tập hợp được đông đảo học sinh của trường và nhiều trường khác. Cũng tại đây, Lưu Hữu Phước và Mai Văn Bộ viết bài hát La Marche des Étudiants, tiền thân của bài Tiếng gọi thanh niên và Tiếng gọi Công dân, Quốc ca của Việt Nam Cộng hòa.

Tượng Pétrus Ký trong khuôn viên trường

Tượng Pétrus Ký trong khuôn viên trường. Ảnh: Internet

Chỉ sau 1 năm, phong trào bị chính quyền thực dân cấm hoạt động do tuyên truyền các hoạt động yêu nước. Đến năm 1942, học sinh Pétrus Ký theo phong trào của học sinh sinh viên Hà Nội tập hợp nhau lấy tên là đoàn S.E.T (Section Exécution Tourisme). Đoàn S.E.T tổ chức theo kiểu hướng đạo, giáo dục lý tưởng sống lành mạnh, yêu nước, yêu dân tộc đang bị ngoại xâm thống trị và từ ý thức này gợi đến ý thức chống Đế quốc. Trong thời gian này, tại trường cũng có một số giáo sư âm thầm biểu lộ tình cảm yêu nước của mình qua tác phong bài giảng như Phạm Thiều, Lê Văn Chí, Trần Văn Thanh.

Năm 1942, trường di chuyển về trường sở Sư phạm Sài Gòn vì chiến cuộc nhưng không lâu sau lại mở cửa dạy học vào năm ấy tại trường sở cũ. Nhưng đến năm 1945, trường sở bị trưng dụng làm doanh trại của quân đội Nhật. Trường phải dời về khu tiểu học Tân Định và sau đó ngưng hoạt động.

Ngày 1 tháng 4 năm 1946, sau khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, trường mở cửa dạy lại trong Chủng viện đường Lucien Mossard và đến năm 1947, trở lại hoạt động nơi trường sở hiện tại.

Khu nội trú và sân trường

Khu nội trú và sân trường. Ảnh: Internet

Từ năm 1948, học sinh trường Pétrus Ký mở đầu phong trào đấu tranh đòi “Dạy và Học bằng Tiếng Việt”, bãi bỏ chế độ thi hà khắc, chống khủng bố kiềm kẹp học sinh. Trong ngày tựu trường 10 tháng 9 năm 1949, học sinh các trường kết hợp với trí thức và cha mẹ học sinh đưa yêu sách yêu cầu Bộ giáo dục giải quyết ngay và tiến hành bãi khóa kéo dài 1 tháng. Chính quyền thực dân Pháp đàn áp và bắt bớ. Giám đốc Nha học chính Nam phần ra lệnh đóng cửa hai trường Pétrus Ký và Gia Long, sau đó ra lệnh cho học sinh làm đơn xin đi học lại. Học sinh vẫn tiếp tục đấu tranh với 3 yêu sách:

• Lập tức thả ngay những học sinh bị bắt.
• Bảo đảm an ninh cho học sinh, không được khủng bố, bắt bớ vô cớ.
• Mở các trường vô điều kiện, không phải làm đơn xin học lại.

Ngày 9 tháng 1 năm 1950, hơn 2.000 học sinh trường Pétrus Ký, Áo tím Gia Long, Kỹ thuật… kéo đến trụ sở Nha học chính biểu tình, đưa yêu sách đòi thả các học sinh bị bắt. Sau đó, đoàn biểu tình kéo đến dinh Thủ hiến Nam phần. Chính quyền thực dân ra lệnh giải tán, đàn áp đoàn biểu tình dữ dội. Lúc này đoàn biểu tình đã lên đến 50.000 người đã chống trả mãnh liệt. Cảnh sát nổ súng bắn vào đoàn biểu tình. Học sinh Trần Văn Ơn, của trường Pétrus Ký, bị tử thương. Ban đấu tranh của học sinh tổ chức bảo vệ xác Trần Văn Ơn ở bệnh viện Chợ Rẫy và sau đó tổ chức lễ tang trọng thể tại trường.

Ngày 12 tháng 1 năm 1950, toàn thành phố đình công bãi thị, tham dự đám tang Trần Văn Ơn. Học sinh các trường trung học Mỹ Tho, Cần Thơ, Huế, Hà Nội kéo về Sài Gòn tham dự. Hầu như toàn bộ học sinh các trường đều có mặt tại trường Pétrus Ký mang theo khẩu hiệu ghi tên, trường và khẩu hiệu phản đối chính quyền. Hơn 1 triệu người xuống đường đưa đám tang. Đây là đám tang lớn nhất Sài Gòn, kể từ sau đám tang của cụ Phan Chu Trinh năm 1925.

Đông đảo học sinh Pétrus Ký và người dân miền Nam tham gia đám tang của Trần Văn Ơn

Đông đảo học sinh Pétrus Ký và người dân miền Nam tham gia đám tang của Trần Văn Ơn. Ảnh: Internet

Năm 1951 Ông Phạm Văn Còn, một viên chức cao cấp của xã Tây, được ân thưởng Légion d’honneur cấp officier, được cử làm Hiệu Trưởng của trường thay thế Thầy Lê Văn Kiêm. Ngoài công ơn đem trật tự cho trường Ông Phạm Văn Còn chỉnh trang trường sở như xây dựng cổng trường, dựng hàng rào gạch thay thế hàng rào bông bụp ở trước trường, xây nhà để xe đạp cho học sinh.

Cũng vào năm 1951 Thầy Ưng Thiều, giáo sư Hán văn, trong buổi học về thơ Đường, thầy có làm bài thơ tứ tuyệt sau đây:

Trường tôi ở tại lối Nancy,
Trung học đường kia có bảng ghi.
Mượn hiệu người xưa Trương Vĩnh Ký,
Lẫy lừng danh tiếng đã bao thì.

Thầy Ưng Thiều còn đặt hai câu đối để chỉ rõ đạo đức học tập và trí dục cho học sinh, được Ông Hiệu Trưởng Phạm Văn Còn chọn khắc trước cổng trường như sau:

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt
Tâu Âu khoa học yếu minh tâm

Cổng trường Pétrus Ký

Cổng trường Pétrus Ký. Ảnh: Internet

Thời VNCH

Sau hiệp định Genève từ tháng 5 năm 1954 trường Pétrus Ký bị trưng dụng cho di dân miền Bắc đến tạm trú. Đến tháng 10 năm 1954 trường mới được trả lại để khai giảng năm học mới và bắt đầu học chương trình Việt từ lớp đệ thất, các lớp học theo chương trình Pháp trước đây vẫn tiếp tục học theo cuốn chiếu và kỳ thi Tú Tài I và Tú Tài toàn phần Pháp vẫn tồn tại đến năm 1960. Bên cạnh trường Petrus Ký ở trong sân vận động Lam sơn, một dãy nhà tre lá cất tạm cho học sinh trường Chu Văn An ở Hà Nội chuyển vào học.

Ngày 30 tháng 3 năm 1955, xung đột giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên nổ ra. Công an xung phong của Bình Xuyên vào đóng tại trường Pétrus  Ký. Đến ngày 30 tháng 4 năm 1955, quân chính phủ đánh bật được quân Bình Xuyên ra khỏi trường Pétrus Ký và các điểm khác.

Năm 1961, trường được hợp thức hóa để trở thành trường Trung Học Đệ Nhị Cấp theo hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa.

Năm 1970, học sinh trường tổ chức từ bãi khóa đến xuống đường tham gia biểu tình, đánh chiếm tòa đại sứ Campuchia, phản đối hành động Lon Nol tàn sát Việt Kiều ở Campuchia. Đêm 5 tháng 9 năm 1970, học sinh Pétrus Ký cùng học sinh sinh viên các trường tổ chức đêm không ngủ của phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ ở miền Nam.

Năm 1972, Nguyễn Thái Bình, cựu học sinh Pétrus Ký, du học ở Mỹ đã công khai công kích chính quyền Mỹ trên diễn đàn nước Mỹ. Chính phủ Mỹ đã trục xuất anh khỏi nước Mỹ, và khi về đến Việt Nam, Nguyễn Thái Bình đã bị bắn chết trong “vụ án không tặc Nguyễn Thái Bình”.

Sau 1975

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi Quân Giải phóng miền Nam tiến vào Sài Gòn, đã đặt trụ sở Ban quân quản thành phố, do tướng Trần Văn Trà đứng đầu, tại trường sở. Trường Trung Học Pétrus Ký tạm thời đóng cửa đến tháng 7 năm 1975 thì mở cửa lại. Cuối tháng 9 năm 1975, các học sinh của trường học niên khóa 1974-1975 được dự thi bằng Trung Học Đệ nhất cấp và bằng Tú Tài.

Trường Pétrus Ký ngày nay

Trường Pétrus Ký ngày nay. Ảnh: Internet

Muốn vào học trường Pétrus Ký học sinh ưu tú của Saigon và các tỉnh phía Nam phải qua kỳ thi tuyển rất gay go, từ khi mới thành lập cũng vậy mà sau này cũng vậỵ Vì thuộc thành phần chọn lọc như vậy cho nên học sinh Pétrus Ký đậu rất nhiều và rất cao trong các kỳ thị Kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp năm 1959 chẳng hạn là kỳ thi rất hóc búa, toàn quốc chỉ có một người đậu hạng Bình mà thôi, và người đó là học sinh Pétrus  Ký. Về phương diện kỷ luật và trật tự thì có lẽ không có trường nào có kỷ luật và trật tự chặt chẽ, tốt đẹp bằng trường Pétrus Ký.

Phần đông giáo sư Pétrus Ký là giáo sư được chọn lọc, rất có căn bản chuyên môn và cũng rất đạo đức. Các giáo sư được bổ nhiệm về trường Pétrus Ký và một số các trường lớn khác ở Saigon thường phải là những người đậu đầu hay thật cao trong danh sách tốt nghiệp CĐSP hay ĐHSP sau này, hoặc những người đã dạy lâu năm ở tỉnh. Quý thầy đều rất tận tụy với việc giảng dạy, rất thương học sinh, và rất chú tâm đến việc bảo vệ uy tín và thanh danh của trường Một số giáo sư Pétrus  Ký đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục sau khi dạy ở trường một thời gian.

Từ ngày được thành lập cho đến khi trường bị đổi tên, trong suốt gần năm mươi năm hoạt động, trường trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký đã làm tròn sứ mạng giáo dục được giao phó, đã đóng tròn vai trò một định chế xã hội đối với quốc gia, đã đào tạo được không biết bao nhiêu nhân tài cho xứ sở, đã trở thành một trường trung học phổ thông nổi tiếng vào bậc nhất ở miền Nam Việt Nam.

Khuôn viên trường Pétrus Ký vào buổi đầu thành lập

Khu vực ban đầu của trường Petrus Ký

Khu vực ban đầu của trường Petrus Ký

Ảnh chụp lúc Chợ Lớn và Sài Gòn còn là hai thành phố riêng biệt, khoảng giữa là vùng ngoại ô ít người. Khu Nancy, góc Cộng Hòa và Trần Hưng Đạo còn là đầm lau sậy. Khu Nguyễn Trãi bán hoa còn là đồn lính Cây Mai. Trước 1945 , trường Pétrus Ký rộng, chiếm trọn tứ giác Cộng Hòa (nay là Nguyễn Văn Cừ), Thành Thái (nay là An Dương Vương), Trần Bình Trọng , Nguyễn Hoàng (nay là Trần Phú). Khi đó, trường thu hẹp chỉ còn hai dãy nhà dài ở phía lưng chừng trên bên phải và khu văn phòng phía cực phải trong hình. Phần phía dưới trong hình , trước đây dùng làm khu nội trú cho học sinh. Sau 1954 , tách riêng để lập trường Đại học Khoa học Tự nhiên và trường Sư phạm , phần lớn bị phá huỷ để xây dựng lại. Phần phía trái trong hình , là nhà tập thể cho các giáo viên , nhưng nghỉ dạy không thu hồi lại mà cho phép chuyển nhượng.

Các đời hiệu trưởng từ 1927-1975

1927-1929 1929-1931 1931-1933 1933-1938 1938-1944
Sainte Luce Banchelin

banchelin

Paul Valencot

Andre Neveu banchelin Paul Valencot lejeannicLe Jeannic
1944-1947 1947-1951 1951-1955 1955-1957 1957-1958
tailadeTaillade le-van-khiemLê Văn Khiêm pham-van-conPhạm Văn Còn nguyen-van-kinhNguyễn Văn Kính nguyen-van-thoNguyễn Văn Thơ
1958-1960 1960-1963 1963-1964 1964-1966 1966-1969
nguyen-van-truongNguyễn Văn Trương pham-van-luoc Phạm Văn Lược nguyen-thanh-liemNguyễn Thanh Liêm tran-ngoc-thaiTrần Ngọc Thái tran-van-thuTrần Văn Thử
1969-1971 1971-1971 1971-1973 1973-1975
tran-ngoc-thaiTrần Ngọc Thái tran-van-nhonTrần Văn Nhơn bui-vinh-lapBùi Vĩnh Lập nguyen-minh-ducNguyễn Minh Đức

Những hình ảnh khác

Hiệu đoàn trường Pétrus Ký

Hiệu đoàn trường Pétrus Ký. Ảnh: Internet

Categories: Trường học | Tags: , , , | 1 Comment

Các rạp cải lương xưa ở Sài Gòn

 Có một thời cải lương ở Sài Gòn rất được ưa chuộng. Đó là giai đọan cực thịnh hay giai đọan lên ngôi của cải lương miền nam Việt Nam trước 1975, nhiều rạp cải lương mọc lên chẳng thua kèm gì các rạp chiếu bóng thời đó. Và một số chủ rạp chiếu bóng thấy có nhiều đoàn hát cải lương, khán giả cải lương đông đảo hơn khán giả xem phim nên họ sửa các rạp chiếu phim thành rạp hát cải lương.

Khu vực Saigon:

Rạp Norodom – nay là Công ty Xổ số kiến thiết thành phố – 23, Lê Duẩn, P. Bến Nghé, Q1. Nằm đối diện với một đơn vị quân đội Pháp, sau là cơ quan chiến tranh chính trị của quân đội Việt Nam Cộng Hòa nên khán giả ngại, ít đến rạp này để xem hát. Đoàn Việt Kịch Năm Châu có hát ở rạp Norodom vài lần. Cơ quan xổ số Kiến Thiết Quốc Gia dùng rạp Norodom để xổ số kiến thiết mỗi tuần, có phụ diễn văn nghệ( ca múa nhạc). Rạp Norodom được đài phát thanh Pháp Á chọn làm nơi ổ chức cuộc thi tuyển lựa ca sĩ nhi đồng vào năm 1956, và nữ ca sĩ Khánh Ly đạt giải nhất, nữa ca sĩ Lệ Mai đạt giải nhì trong cuộc thi này. Cuối năm 1954 Ca sĩ Thúy Nga ( vợ của cố nhạc sĩ Hoàng thi Thơ) dự thi Tuyển lựa Ca Sĩ do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức tại rạp Norodom, và cô thiếu nữ Thúy Nga 18 tuổi lúc bấy giờ đã đoạt giải nhất của cuộc thi Sau này rạp Norodom trở thành Công ty Xổ số kiến thiết thành phố trên đường Lê Duẩn, Q1

Rạp Norodom ngày nay là công ty Xổ Số Kiến Thiết

Rạp Aristo – nay là khách sạn New World – 76, Lê Lai, P. Bến Thành, Q1.

Aristo là một rạp hát cải lương lớn ở Sài Gòn trước năm 1954. Rạp Aristo, còn có tên gọi là Trung Ương Hí Viện, nằm trên đường Colonnel Budonnet tức đường Lê Lai ngày nay. . Đây từng là nơi trình diễn thường trực của đoàn cải lương Kim Chung di cư từ miền bắc vào nam.

Không ai còn nhớ tên người chủ rạp Aristo, tức Trung Ương Hí Viện, và cũng không ai biết nó có tự bao giờ. Thuở đầu tiên, đó là một nhà hàng sang trọng, có một sân khấu nhỏ để những tối thứ bảy, ban đờn ca tài tử đến ca giúp vui cho thực khách. Có khi chủ nhà hàng thay ban đờn ca cổ nhạc bằng một dàn nhạc nhẹ chuyên trình tấu các bản nhạc cổ điển Pháp, dàn nhạc Tây có piano, violin, saxo, clarinette. Trong số thực khách quen thuộc có ông Trưởng tòa Phan Văn Thiết, ông Đốc phủ Đỗ Văn Rỡ, ký giả Trần Tấn Quốc, ông Thân Văn Nguyễn Văn Quý, ông Nguyễn Công Thiện, Giám đốc hãng xăng Esso-Sài Gòn, là những người say mê nghệ thuật hát bội nên thường rước các ban hát bội về hát tại nhà hàng Aristo. Đầu năm 1940, do khán giả đến xem hát rất đông nên ông chủ nhà hàng mới dẹp cái restaurant đó, phá nó để xây lại thành một rạp hát đàng hoàng, có sân khấu theo đúng tiêu chuẩn của một rạp hát lớn, có hậu trường, có hầm sân khấu và khán phòng với 800 ghế ngồi bọc simili đỏ (vải cao su giả da màu đỏ) giống các rạp chiếu phim Tây như rạp Moderne, rạp Majestic, rạp Eden.

Rạp Aristo từng được các đoàn cải lương đại ban về diễn như gánh hát Nam Phi của bầu Năm Phỉ-Chín Bia, gánh cải lương tuồng Tàu Phụng Hảo của bầu Nhơn-Phùng Há, gánh hát thi ca vũ nhạc Nam Hồng của bầu Trình, gánh hát Hoa Sen của bầu Bảy Cao, gánh Việt Kịch Năm Châu của ông bầu Năm Châu.

Rạp Aristo trước 1975

Rạp Aristo ngày nay là khách sạn New World Sài Gòn

* Một số sự kiện lớn liên quan đến rạp Aristo:

Hai phong trào: Chấn Hưng Hát Bội và Canh Tân Hát Bội cũng được tổ chức tại rạp Aristo:

Năm 1948-1949, ông Thân Văn Nguyễn Văn Quý và bác sĩ Võ Duy Thạch phối hợp với ký giả Trần Tấn Quốc, Đốc phủ sứ Đỗ Văn Rỡ và Trưởng tòa Phan Văn Thiết mời các ban hát bội về diễn tại rạp Aristo, với các thành phần diễn viên tài danh nhất của ngành hát bội như Năm Đồ, Mười Sự, Minh Tơ, Mười Vàng, Tám Văn, Năm Còn, Tư Châu, Ba Út, Kim Chắc… Họ hát các tuồng thầy như: San Hậu, Tam Nữ Đồ Vương, Trầm Hương Các; và các tuồng hát bội với cốt truyện Tàu như: Trảm Trịnh Ân, Đào Tam Xuân, Phụng Nghi Đình, Lưu Kim Đính, Xử Án Bàng Quí Phi…

Lúc đó, có những nghệ sĩ muốn Canh Tân Hát Bội bằng cách tuy vẫn hát tích truyện cũ nhưng lời văn bỏ bớt những câu chữ Nho, bớt lối văn biền ngẩu mà thay vào đó bằng những câu văn thường hoặc sau khi hát câu chữ Nho, nghệ sĩ nói lối thêm bằng văn thường để nói lên ý nghĩa của câu chữ Nho vừa mới hát giúp cho khán giả không biết chữ Nho có thể hiểu cốt truyện tuồng. Ngoài ra, những người chủ trương Canh Tân Hát Bội còn bớt lối hát Nam, hát Khách bằng cách xen vào ca các bài bản cải lương theo lối hát cải lương tuồng Tàu. Họ lượt bỏ khỏi dàn nhạc hát bội những trống chiêng, kèn lá, thêm tranh cảnh và y trang như các đoàn hát tuồng Tàu, các đoàn hát Quảng Đông.

Nhiều nghệ sĩ hát bội bậc thầy như Tám Văn, Mười Vàng, Năm Đồ, Ba Út và các nhà trí thức say mê nghệ thuật hát bội như các ông Đỗ Văn Rỡ, Thân Văn Nguyễn Văn Quí, ký giả Trần Tấn Quốc đã vận động báo chí ủng hộ sự thành lập Ban Chấn Hưng Hát Bội do ông Thân Văn Nguyễn Văn Quí và bác sĩ Võ Duy Thạch trực tiếp điều hành. Đây là một hội đoàn tư nhân, họ kiên trì vận động các nghệ sĩ hát bội có tâm huyết với nghề để bảo vệ nghệ thuật cổ truyền, chống sự lai tạp theo kiểu hát bội pha cải lương.

Hội Khuyến Học Nam Việt tích cực vận động các ký giả các nhật báo và tạp chí văn học, các nhà trí thức thích xem hát ủng hộ chủ trương đứng đắn của Ban Chấn Hưng Hát Bội, nên vào năm 1952 Ban Chấn Hưng Hát Bội xin được giấy phép thành lập Hội Khuyến Lệ Cổ Ca do chánh phủ Nam Việt cấp. Hội Khuyến Lệ Cổ Ca lấy rạp Aristo làm trụ sở, mở nhiều cuộc hội họp diễn thuyết chủ trương của Hội.

Đoàn Việt Kịch Năm Châu với chủ trương “Sân Khấu Thật và Đẹp” tại rạp Aristo:

Sự kiện quan trọng đáng ghi nhớ là đoàn Việt Kịch Năm Châu công bố chủ trương thực hiện một sân khấu “Thật và Đẹp” trong dịp tổ chức cúng Tổ năm 1952 tại rạp Aristo.

Đứng đầu các ký giả có nhiệt tâm với nghệ thuật sân khấu là ông Trần Tấn Quốc, ông nhiệt liệt hoan hô và tán thành chủ trương thực hiện một sân khấu “Thật và Đẹp” của nghệ sĩ Năm Châu.

Do quan niệm sân khấu cải lương “Thật và Đẹp” nên soạn giả Năm Châu hướng dẫn cho nghệ sĩ trong đoàn hát nên chú trọng nghệ thuật diễn xuất, biểu hiện nội tâm nhân vật qua lời đối thoại, bớt ca cổ nhạc. Trong tuồng ít viết vọng cổ và trước khi nghệ sĩ ca vọng cổ, dàn đờn không rao trước để cho nghệ sĩ bắt hơi. Nghệ sĩ diễn như diễn kịch và ca cổ nhạc theo khuynh hướng ca nói (ca như nói chớ không đưa hơi ơ… ơ… như lối ca từ trước đến nay).

Đoàn Việt Kịch Năm Châu mất dần khán giả vì trong thời kỳ này khán giả thích nghe ca vọng cổ với những giọng ca vàng như giọng ca của Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Thanh Hương, Út Bạch Lan.

Rạp Aristo: Nơi khai sinh đoàn cải lương Kim Thanh-Út Trà Ôn :

Cuối năm 1954, sau khi mãn hợp đồng với đoàn hát Thanh Minh bầu Năm Nghĩa, các nghệ sĩ Kim Chưởng, Út Trà Ôn, Thanh Tao và Thúy Nga hợp tác với nhau thành lập đoàn hát Kim Thanh-Út Trà Ôn (Kim Thanh-Út Trà Ôn là tên ghép của ba danh ca Kim Chưởng + Thanh Tao + Út Trà Ôn). Đoàn cải lương Kim Thanh mướn rạp Aristo với một giá thật rẻ để làm chỗ tập tuồng, đóng cảnh trí và quy tụ nghệ sĩ. Từ năm 1953-1954, ít khán giả đến rạp Aristo xem hát vì các đoàn hát lớn hát ở rạp Nguyễn Văn Hảo, rạp Thành Xương, là những rạp ở mặt tiền đường lớn. Ông chủ rạp cho đoàn Kim Thanh-Út Trà Ôn mướn với giá rẻ để đoàn hát làm chỗ tập tuồng với ý muốn nhờ đoàn Kim Thanh mà phục hồi phong độ của rạp Aristo như hồi cực thịnh (năm 1940-1952). Đòan Kim Thanh-Út Trà Ôn hát khai trương tuồng Tình Duyên Hoa Thắm vào ngày 04/01/1955, hát vở này suốt 3 tuần lễ. Thành phần nghệ sĩ gồm có danh ca Út Trà Ôn, Thanh Tao, Phước Trọng, Kim Chưởng, Thanh Hương, Thúy Nga, Út Bạch Lan,…và hát các tuồng: Trăng Nước Lam Giang, Tình Duyên Hoa Thắm, Thoại Khanh Châu Tuấn, Sau Bức Màn Nhung.

Rạp Aristo: Nơi khai sinh và diễn thường trực của đoàn Kim Chung-Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt:

Vào tháng 10 năm 1954, ông bầu Trần Viết Long ký hợp đồng mướn rạp Aristo trong một năm với một giá rất rẻ để làm nơi tập tuồng và củng cố lại đoàn hát Kim Chung-Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt vừa mới di cư vào Nam sau hiệp định đình chiến Genèvre 54. Thời kỳ đó chưa có đoàn hát nào ở miền Nam hát thường trực hằng tháng ở một rạp. Thế nhưng đoàn Kim Chung-Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt đã lập kỷ lục hát liên tục 40 suất một vở tuồng (tuồng Trăng Giãi Đêm Sương) tại rạp Aristo, khiến cho báo chí, nghệ sĩ và các ông bà bầu gánh hát cải lương miền Nam phải chú ý và để tâm nghiên cứu hiện tượng này.

Đến năm 1958, đoàn Kim Chung không thu hút được khán giả nữa. Và sau năm 1958, khi Kim Chung mướn rạp Olympic làm nơi diễn thường trực thì rạp Aristo bị bỏ hoang, cho đến sau năm 1975, vùng đất này được dùng làm nơi cất lên khách sạn năm sao, Sài Gòn New World Hotel, chấm dứt vĩnh viễn sự tồn tại của rạp hát Aristo.

(Theo soạn giả Nguyễn Phương)

Rạp Olympic –  nay là Trung tâm Văn hóa TP.HCM – 97, Nguyễn Thị Minh Khai, P. Bến Thành, Q1. Rạp được công ty Kim Chung của ông bầu Long độc quyền cả chục năm trời từ sau năm 1958 cho 5 đoàn hát của công ty luân phiên diễn. Với các vở diễn nổi tiếng một thời: Mạnh Lệ Quân, Lan và Ðiệp,….

Image

Rạp Olympic thập niên 60

Rạp Olymic bây giờ là Trung tâm văn hoá thành phố

*  Khu vực “ngã tư quốc tế” (trục Phạm Ngũ Lão, Trần Hưng Đạo ngày nay)  trở thành một trong những khu hoạt động nhộn nhịp nhất của làng văn nghệ Sài Gòn ngày đó. Mặc dù mật độ các rạp hát khá dày (Nguyễn Văn Hảo, Thanh Bình, Hưng Đạo, Quốc Thanh, Khải Hoàn) nhưng các đoàn hát lớn thường xuyên tập kết về, đây trở thành nơi tập trung, điểm hẹn của nhiều nghệ sĩ, giới ký giả kịch trường, các ông bà bầu muốn “săn” đào kép mới cũng tìm đến đây. Các rạp thuộc khu vực này gồm:

Rạp Quốc Thanh – nay là nhà hàng, tiệc cưới Quốc Thanh – 271, Nguyễn Trãi, P. Nguyễn Cư Trinh, Q1. Được thành lập năm 1960 khi đoàn Thái Dương ra đời, rạp cũng là nơi đóng đô của đoàn Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân. Rạp có máy lạnh, có 1000 ghế trong khán phòng và sân khấu được thiết kế rộng rãi.

Rạp Quốc Thanh giờ là nhà hàng tiệc cưới Quốc Thanh

Rạp Thanh Bình – sau đổi là rạp Quốc tế, gần chợ Thái Bình trên đường Phạm Ngũ Lão, nay là căn hộ chung cư cao cấp. Là rạp có thang cuốn đầu tiên ở Việt Nam  tại Sài Gòn. Lúc đầu là rạp chiếu bóng, sau được ông Diệu sửa thành rạp cải lương để đoàn hát Thủ Đô của ông Ba Bản khai trương, ghi một dấu ấn sâu sắc trong lãnh vực nghệ thuật sân khấu cải lương là có một đoàn hát Thủ Đô có nhiều tuồng hay, có cảnh trí tuyệt đẹp và dàn cảnh vĩ đại.

Rạp Thanh Bình giờ là căn hộ chung cư cao cấp, phía dưới là International Plaza

Rạp Hưng Đạo – 136, Trần Hưng Đạo, P. Phạm Ngũ Lão, Q1. Ra đời ở thập niên 60. Hiện tại rạp đã bị đập ra cho dự án xây dựng thành Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Cải lương TPHCM.

Nghệ sĩ cải lương trong các thập niên 60, 70, 80, không có nghệ sĩ nào là không có dịp hát trên sân khấu của rạp hát Hưng Đạo, một rạp hát lớn nhất ở Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Do đó, rạp hát Hưng Đạo lưu giữ nhiều kỷ niệm, nhiều sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển của nhiều đoàn hát đại ban. Rạp Hưng Đạo cũng là nơi mà nhiều đoàn hát đã hát những tuồng xã hội cận đại rất hay, nhiều tuồng Tàu, tuồng Hồ Quảng và cả những tuồng chiến tranh của đoàn hát Hoa Sen. Ngày nay, mỗi khi nhắc lại những tuồng từng thu hút đông đảo khán giả, các nghệ sĩ cải lương còn rút ra được nhiều bài học quí giá về kỹ thuật dàn dựng tuồng, nhiều cốt truyện hay, nhiều giai thoại về các nghệ sĩ thinh sắc lưỡng toàn, những chuyện tình không đoạn kết giữa nghệ sĩ và khán giả, giữa nghệ sĩ và nghệ sĩ…

Năm 1958, ông Nguyễn Thành Niệm, một nhà tư sản chủ hãng xuất nhập cảng xe hơi, đồ phụ tùng xe hơi, xe gắng máy, tủ lạnh và máy lạnh ở ngay ngã tư các đường Hưng Đạo, Nguyễn Cư Trinh và Cô Bắc, bỏ tiền ra xây cất tòa nhà Hưng Đạo 1, Rạp Hưng Đạo và một tòa nhà khác được đặt tên là Hưng Đạo 2 ở ngay ngã tư, góc đường Phát Diệm và đường Hưng Đạo.

Đến đầu năm 1960 thì ba công trình xây cất này mới hoàn thành và đưa vào thị trường khai thác. Lúc đó đoàn Thanh Minh-Thanh Nga còn mướn thường trực rạp hát Thành Xương ở đường Yersin của ông Phạm Minh Tấn. Ông Ân, em vợ của ông Nguyễn Thành Niệm, được trao quyền quản lý rạp Hưng Đạo. Ông Ân đã mời bà bầu Thơ đến văn phòng của ông trên lầu ba ở ngay mặt tiền rạp Hưng Đạo để giới thiệu rạp hát và mời bà bầu Thơ đưa đoàn hát Thanh Minh-Thanh Nga về hát khai trương và ký hợp đồng hát thường trực ở rạp Hưng Đạo.

Rạp mới Hưng Đạo có 1100 ghế, trừ đi những hàng ghế có chữ R tức réserver dành cho chủ rạp, đoàn hát còn 1000 ghế, chia ra 300 ghế thượng hạng giá vé mỗi ghế là 120 đồng, 200 ghế hạng nhứt, mỗi vé là 80 đồng, 200 ghế hạng nhì, mỗi vé là 60 đồng, 300 ghế hạng ba, mỗi vé là 40 đồng, nếu bán hết số vé trên, số thu trong một đêm là 76.000 đồng. Rạp Hưng Đạo ở địa điểm tốt, có máy lạnh nên dù hát trưa chúa nhựt hay những ngày mùa hè, khán giả đến xem hát nghẹt rạp vẫn cảm thấy thoải mái, dễ chịu.

Trong bảy năm, từ 1960 đến năm 1967, đoàn Thanh Minh-Thanh Nga hát thường trực tại rạp Hưng Đạo, lúc nào cũng đông khách, với những tuồng hát: Nửa Đời Hương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Đôi Mắt Người Xưa, Ngả Rẽ Tâm Tình, Áo Cưới Trước Cổng Chùa, Vàng Sáu Bạc Mười, Bọt Biển 1 (Chuyện Chúng Mình) Bọt Biển 2 (Chuyện Xóm Mình, Bọt Biển 3 (Chuyện Tình và Tiền), Bọt Biển 4 (Chuyện Trên Cung Trăng), Hoa Mộc Lan, Rồi Ba Mươi Năm Sau.

Bà bầu Thơ biết khi có tuồng mới, đáp ứng theo yêu cầu của khán giả thì đoàn hát sẽ có doanh thu cao, vì vậy bà dám mướn bảy soạn giả thường trực, luân phiên cung cấp tuồng mới cho gánh hát. Đó là các soạn giả Hà Triều, Hoa Phượng, Thiếu Linh, Nguyễn Phương, Kiên Giang, Hoàng Khâm, Viễn Châu.

Khán giả trí thức, công chức, các bà chủ sạp trong các chợ Bến Thành, cầu Ông Lãnh, chợ An Đông, các em học sinh và đông đảo các cô vũ nữ, gái bán bar là khán giả thường xuyên của đoàn hát Thanh Minh-Thanh Nga. Họ thân thiết với nghệ sĩ, có nhiều nghệ sĩ có vợ trong giới vũ nữ. Ở đô thành tình hình an ninh bảo đảm, sinh hoạt của dân chúng trong các lãnh vực mua bán, ăn uống, giải trí về đêm ngày càng phát triển, điều đó giúp cho các nhà tư sản dám bỏ vốn ra đầu tư xây dựng thêm nhiều rạp hát và lập ra nhiều gánh hát cải lương.

(Theo soạn giả Nguyễn Phương)

Image

Rạp Hưng Đạo xưa

Rạp Hưng Đạo nay đã bị đập và tạm thời là nơi rửa xe

Rạp Nguyễn Văn Hảo – nay là rạp Công Nhân, trụ sở Nhà Hát Kịch Thành Phố, Số 30, Trần Hưng Đạo, P. Phạm Ngũ Lão, Q1. Mộtrạp hát được mệnh danh là Hàng Không Mẫu Hạm trước 1975, nơi đóng đô của một số đoàn hát cải lương lớn ở Sài Gòn ngày trước như: đoàn Việt Kịch Năm Châu, đoàn Hương Mùa Thu, đoàn Hoa Sen.

Mặt tiền của Rạp hát Nguyễn Văn Hảo hướng về đường Galliéni (đường Trần Hưng Đạo hiện nay), một con đường tráng nhựa rộng lớn, chạy từ place Cuniac, đầu đường phía Saigon ngang ga xe lửa chạy dài vô đến đường An Bình (Đồng Khánh) con đường tiếp nối vô ChợLớn có tên là đường Les Marins, chạy dài đến đường Tổng Đốc Lộc. Đường Galliéni được xem là con đường giao thông huyết mạch từ Saigon đi Chợ Lớn.

Cửa hậu của rạp Nguyễn Văn Hảo trổ ra đường Bùi Viện.

Ông Nguyễn Văn Hảo, chủ nhân rạp Nguyễn Văn Hảo, cũng là chủ nhân hai dãi phố lầu chạy song song trên đường Galliéni (đường Trần Hưng Đạo hiện nay) từ ngã tư đường Kitchener ( Nguyễn Thái Học) và đường Galliéni, chạy đến đường Bùi Viện, mỗi bên đường có hơn mười căn phố lầu. Góc đường mũi tàu Bùi Viện, Kitchener và Galliéni, là cửa lên lầu ba của vũ trường Tour D’Ivoire.

Ông Nguyễn Văn Hảo chủ rạp hát Nguyễn Văn Hảo và chủ hai dãi phố lầu cũng là chủ nhân cây xăng ngay góc đường Yersin và Galliéni.

Rạp Nguyễn Văn Hảo có ba tầng khán phòng. Tổng cộng số ghế cho khán giả trong rạp là 1200 ghế, ( chưa kể ghế súp đặt dọc theo đường đi khi gánh hát bán hết vé chánh thức.). Đây là rạp hát có nhiều số ghế nhất ở Saigon, Chợ Lớn và Gia Định nên được các nghệ sĩ gọi tặng là Hàng Không Mẫu Hạm Nguyễn Văn Hảo..

Lầu ba dành cho khán giả hạng ba có 300 ghế, Ghế ở lầu ba được đóng bằng ván dài, trên một cái dàn gổ, ghế được đóng từng hàng từ thấp lên cao như ghế băng trong các rạp hát xiệc.

Lầu hai dành cho khán giả hạng nhì và hạng nhất có 400 ghế bọc nêm da đỏ có lưng dựa..

Tầng trệt có 500 ghế bọc nệm da đỏ, dành cho khán giả thượng hạng và hạng nhất.

Phía tay mặt của rạp hát, có một hành lang rộng 5 thước ngang, dài từ cửa trước đến sát phông sân khấu (độ 50 thước) Hành lang này dành cho đoàn hát để phông màn, chổ làm tuồng của một số đào, kép hạng ba , vũ nữ và quân sĩ. Phía ngoài để xe gắn máy của nghệ sĩ.

Kế bên rạp hát phía mặt ( từ trong rạp nhìn ra đường) là restaurant Vạn Lộc, chủ nhân là bà Vạn Lộc, thân mẫu của trung úy Danh, chồng của nữ nghệ sĩ Thanh Xuân, đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga.

Từ năm 1954 đến năm 1960, rạp Nguyễn Văn Hảo là rạp hát lớn nhất, có sân khấu rộng và sâu nhất, khán giả đến xem đông nhất, đó là những thuận lợi giúp cho các bầu gánh, soạn giả và họa sĩ thực hiện những tiến bộ kỷ thuật và nghệ thuật để nâng cao trình độ của sân khấu cải lương.

Một số đoàn hát nổi tiếng từng hát ở rạp Nguyễn Văn Hảo:

Rạp là nơi đoàn Việt Kịch Năm Châu diễn tuồng Tây Thi Gái Nước Việt. Và cũng là nơi đoàn cải lương Hương Mùa Thu của ông bầu Thu An thực hiện kỷ thuật sân khấu cải lương panorama. Khai trương sân khấu cải lương panorama, đoàn Hương Mùa Thu hát tuồng Lá Của Rừng Xanh. Ngoài ra Đoàn cải lương Hoa Sen của ông bầu Bảy Cao cũng về hát ở đây với việc thực hiện sân khấu quay với tuồng hát khai trương là Mộng Hoà Bình. Đoàn Hoa Sen của ông Bầu Bảy Cao là đoàn hát có doanh thu cao nhứt trong tất cả các đoàn hát cải lương trong cuối thập niên 50. Đây là một đoàn cải lương lần đầu tiên ở Việt Nam thực hiện được sân khấu quay.

Trong cuối thập niên 80, rạp hát Nguyễn Văn Hảo sửa thành nhà hát Kịch Công Nhân, làm mất đất sống của dân cải lương, dành chổ cho ngành kịch nụ cười mới.. Người ta nói là nâng cáp cải lương nhưng dẹp bỏ rạp hát cải lương.

(Theo soạn giả Nguyễn Phương)

Rạp Nguyễn Văn Hảo xưa

Rạp Nguyễn Văn Hảo xưa từng là nơi đóng đô của đoàn Việt Kịch Năm Châu

Rạp Nguyễn Văn Hảo giờ được đổi tên thành rạp Công Nhân

Rạp Khải Hoàn – Nay là Trung Tâm Điện Máy, góc Cống Quỳnh – Phạm Ngũ Lão, Q1.

Rạp Khải Hoàn ngày nay là Trung tâm điện máy Tâm Hoàn Châu

Rạp Thành Xương – góc đường Phạm Ngũ Lão và đường Yersin, Q1. Sau này trở thành rạp cinê và đổi  tên thành rạp Diên Hồng.

Rạp nằm gần đình Cầu Quan. Đoàn Thanh Minh-Năm Nghĩa trình diễn tuồng Đứa Con Hai Giòng Máu tại rạp Thành Xương. Cô Ngọc Nuôi là diễn viên tài sắc của gánh hát Thỉ Phát Huê cũng hát tại rạp này. Đoàn Phụng Hảo của Cô Bảy Phùng Há đóng đô ở đây hát  vở “Khi người điên biết yêu” có kép Ba Vân và Năm Châu thủ diễn. Ngòai ra, nghệ sĩ Hữu Phước về cộng tác với đoàn Thanh Minh, cũng hát thường trực tại rạp Thành Xương.

Rạp Thành Xương nay là nhà hàng-bar

Khu vực Chợ Lớn:

Rạp Hào Huê – Saunày đổi thành rạp Nhân Dân – 372-374, Trần Phú, P7, Q5.

Rạp ở gần khu Lacaze là rạp hát của gánh hát Quảng cũng được sửa lại cho gánh cải lương mướn.

Rạp LUX – Sau  đổi là rạp Lao Động B rồi trở thành vũ trường Monaco. Nằm trên đường Trần Hưng Đạo, cạnh chợ Nancy và đường Nguyễn Biểu (cầu Chữ Y). Sau  đổi là rạpLao Động B rồi trở thành vũ trường Monaco. Đây cũng là nơi nữ nghệ sĩ lừng danh Thanh Nga bị ám sát hụt vào ngày 16 tháng 03 năm 1977, trong lúc đoàn Thanh Minh diễn tuồng Tiếng trống Mê Linh. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga bị thương nhẹ, hai nhạc sĩ tân nhạc chết tên là Trần Văn Mùi và Lê Hiếu Đức.

Rạp Thủ Đô – nằm trên đường Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn, giờ là 125A, Đường Châu Văn Liêm P.14, Quận 5. Tên cũ là Eden Chợ Lớn. Đối diện rạp Toàn Thắng. Giờ là Sân khấu ca nhạc tạp kỹ của Bầu Duy Ngọc. Chuyên công diễn cải lương, đại nhạc hội.

Rạp Palikao – Gần cầu Palikao, Chợ Lớn:

Ở Chợ lớn có rạp hát Palikao dưới dốc cầu Palikao. Rạp Palikao là nơi diễn thường trực của gánh hát bội Phước Thắng của Bà  Ba Hộ nên rạp Palikao còn được gọi là  rạp Bà Hộ. Con bà Ba Hộ là bà Ba Ngoạn – mẹ của câu Tư Phước Cương (ông là bầu gánh Phước Cương, chồng của cô Năm Phỉ và cô Bảy Nam, cha của nữ nghệ sĩ kịch nói Kim Cương). Rạp Palikao cũng có cho các gánh hát cải lương mướn để trình diễn.

Khu vực Gia Định:

Rạp Hùynh Long – nằm trong chợ Bà Chiểu, trên đường Châu Văn Tiếp (nay là đường Vũ Tùng), gần cửa chính của Lăng Ông.

Là nơi Ðoàn Thái Dương 3, nghệ sĩ Thành Ðược vừa thay thế soạn giả Nguyễn Huỳnh đảm trách nhiệm vụ giám đốc, với thành phần nghệ sĩ tên tuổi gồm Thành Ðược, Diệp Lang, Văn Chung, Hoàng Long, hề Kim Quang, Phượng Liên, Kim Ngọc, Hoàng Vân… diễn  tại đây

Rạp Cao Đồng Hưng – Sau đổi tên thành rạp Gia Định, giờ là nhà sách Thiếu Nhi Gia Định. Trên đường Bạch Đằng, Q Bình Thạnh.Rạp Cao Đồng Hưng trang bị toàn ghế bằng sắt có lỗ nhỏ, phía sau gần cửa vào thì có cả vài hàng ghế cây, học trò trường Hồ Ngọc Cẩn rất  “thân quen” với rạp này.

* Một sự kiện lớn ở rạp Cao Đồng Hưng: Ngày 26 tháng 11 năm 1978, đoàn Thanh Minh diễn tại rạp Cao Đồng Hưng ở Gia Định, vở tuồng Thái Hậu Dương Vân Nga. Sau khi diễn xong, như thường lệ, Thanh Nga cùng chồng là ông Phạm Duy Lân và con là Phạm Duy Hà Linh lên xe về nhà riêng ở số 114 đường Ngô Tùng Châu Sai Gòn. Bọn cướp định bắt cóc cháu Cúc Cu, Thanh Nga và chồng bị hai người lạ mặt bắn chết sau khi dằng co để giựt lại đứa bé 6 tuổi tên Cúc Cu, con trai duy nhứt của họ (Cúc Cu là tên thân mật trong gia đình để gọi Phạm Duy Hà Linh).

Image

Rạp Cao Đồng Hưng xưa

Rạp Văn Cầm – lúc đầu là rạp chiếu bóng sau đó được chuyển thành rạp cải lương cho các đòan cải lương về hát. Rạp Văn Cầm ngày trước có ở 3 địa điểm nhưng đều cùng 1 chủ:

– Văn Cầm, Phú Nhuận: ngay ngã ba đường Võ Di Nguy (nay là Phan Đình Phùng) & Nguyễn Huỳnh Đức (Huỳnh Văn Bánh)

– Văn Cầm, Chợ Quán: Đường Trần Hưng Đạo, gần chợ Nancy.

– Văn Cầm, Thị Nghè: đường Pham Viết Chánh, Thị Nghè, gần trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây

Image

Rạp Văn Cầm xưa

Rạp Thuận Thành – ở đường Paul Bert (Trần Quang Khải), về sau bị phá đi để xây rạp chiếu bóng Văn Hoa, ở số 62 Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1, từng là nơi đóng quân của đoàn Phụng Hảo.

Khu vực Gò Vấp:

Rạp Lạc Xuân – (nay là Nhà sách Lạc Xuân) – đường Nguyễn Văn Nghi – Phường 7, Gò Vấp.

Rạp Đông NhìSau đổi là rạp 30/4, nay là trung tâm thời trang EVENNA & KAP’S (cùng chủ với Đại Đồng Gia Định ở đường Nơ Trang Long và Đại Đồng Sài Gòn ở đườn Cao Thắng, Bàn cờ, cũng là chủ rạp Đại Đồng Hà Nội di cư vào Nam). Rạp Đông Nhì là rạp bình dân.

Khu vực Phú Lâm:

Rạp Cây Gõ 46 Minh Phụng, P.6, Quận 6, ở gần chợ Cây Gõ. Thời cực thịnh của cải lương, ở đây các đoàn hát về diễn liên tục.

Rạp Quốc Thái – 1557 Đường 3 Tháng 2, Phường 6, Quận 11

Khu vực Nhà Bè:

Rạp Tân Mỹ nằm ở Nhà Bè gần Cầu Hàng ngày xưa, (không biết trước 1975 đoạn đường này tên gì, nhưng bây giờ có tên là Trần Xuân Soạn)

Một số đình cũng được các đòan cải lương và hát bội chọn làm nơi thường trực để biểu diễn:

Đầu đường Nguyễn Thái Học (ngã ba Phạm ngũ Lão) đỗ xuống tận Cầu Ông Lảnh là nơi tọa lạc 2 rạp: đình Tân Kiểng và Nam Tiến, dành cho những khán giả dể tính, sau này chỉ để cho các đoàn cải lương, hát bộ, hồ quảng

Ngoài ra còn có các đình Cầu Quan, đình Cầu Muối ( quận nhứt): nơi đóng đô của hai đoàn cải lương tuồng cổ nổi tiếng Minh Tơ và Huỳnh Long, đình Tân Kiểng( quận 5 ), đình Lý Nhơn( quận 4), đình Minh Phụng( Phú Lâm), đình Dọn Bàn, đình Tân An, đình Phước Thành ở Dakao, đình Phú Nhuận cũng có các gánh hát nhỏ ( hát bội hoặc các đoàn cải lương tỉnh) đến mướn đình để hát.

Tổng hợp từ Internet

Categories: Địa điểm giải trí | 2 Comments

Các rạp chiếu bóng của Sài Gòn xưa

SAIGON

Rạp Alliance Française – 6 Thái Văn Lung, quận 1.

Rạp Alliance Française giờ là rạp chiếu phim Nghiệp Thắng

Rạp Alliance Française giờ là rạp chiếu phim Nghiệp Thắng. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp của Trung Tâm Văn Hóa Pháp chiếu toàn phim Pháp không có phụ đề Việt ngữ, hiếm khi thấy người Việt đi xem. Mặc dù mấy ông Tây rất ghét Mỹ, nhưng đôi khi có chiếu phim Mỹ.

Rạp Cinéma Catinat – đường Nguyễn Thiệp

Rạp Catinat nằm trong con đường nối liền đường Tự Do (Đồng Khởi) sang đường Nguyễn Huệ. Đây là rạp chiếu phim thường trực đầu tiên ở Việt Nam, và tất nhiên cũng là rạp chiếu phim thường trực đầu tiên ở Đông Dương.

Rạp Catinat chỉ chiếu lại những phim các rạp lớn chiếu rồi nên giá vé rất rẻ, giá vé đồng hạng 10 đồng, rạp còn bán 1 tập 10 vé giá 80 đồng, mua nguyên tập khán giả lợi được 20 đồng. Rạp xi-nê thuộc loại ‘tí hon’ này về sau chuyển đổi thành phòng trà ca nhạc với nhiều tên như Au Chalet rồi Đêm Màu Hồng, nơi ra mắt của ban nhạc Phượng Hoàng thời kỳ trước khi nhập với ca sĩ Elvis Phương.

Trên đường Tự Do (Đồng Khởi) có hai rạp được xem là xưa nhất và đẹp nhất là Majestic và Eden.

Rạp Eden quay mặt về hướng công viên. Ảnh: Internet

Rạp Eden nằm trong khu thương xá mua sắm Hành lang Eden (Passage Eden) nổi tiếng. Đến rạp, khán giả có thể đi vào từ phía đường Tự Do, Lê Lợi hay Nguyễn Huệ đều được cả. Cả hai rạp đều được xây dựng rất đẹp theo kiểu kiến trúc cổ điển của các nhà hát Paris, có chia lô để phân biệt giữa hạng cao cấp với hạng bình dân. Thời gian đầu khán giả toàn người Pháp và những người bản xứ giàu có, sau đó dần dần mở rộng cho tất cả các tầng lớp khán giả. Không ai ngờ người Việt đón nhận loại hình mới mẻ này quá nồng nhiệt, đến mức chỉ chưa đến chục năm sau, khán giả đến rạp xem phim chỉ toàn người bản xứ. Chẳng mấy chốc các chủ rạp người Pháp đã phải chuyển nhượng hoàn toàn việc kinh doanh rạp chớp bóng lại cho người Việt. Rạp chớp bóng nhanh chóng trở thành ngành kinh doanh cực kỳ béo bở, và phát triển với tốc độ kinh hồn. Chỉ cần làm chủ một rạp, chỉ sau vài năm đã có thể… xây thêm một rạp khác! Mà rạp hồi đó, sức chứa ít nhất từ 700 – 1000 chỗ là chuyện bình thường.

Ở Sài Gòn, chỉ duy nhất rạp Eden này mới có hai balcon. Thông thường, khi xem xi-nê tại đây, ngồi balcon 1 là hay nhất vì nhìn xuống vừa tầm mắt không mỏi cổ và không bị cái đầu của người ngồi hàng ghế trước che khuất tầm nhìn. Balcon 2 của rạp Eden thì nhỏ hơn và vì quá cao nên nhìn sâu xuống màn ảnh muốn cụp cái cổ nên phần đông khán giả chẳng màng để ý đến sự hiện hữu của nó, ngoại trừ dân đào kép Sài Gòn ‘yêu nhau đi trời hôm tối rồi’ thì chiếu cố rất nhiệt liệt và gọi đó là ‘pigeonnier’ (chuồng bồ câu).Ca sĩ Pháp Dalida đã có lần xuất hiện tại rạp Eden ‘bằng xương bằng thịt’ khi cô đến Sài Gòn.

Rạp Eden sau đó trở thành một phần trở thành phòng trà Tiếng Tơ Đồng, rồi bị xóa sổ hoàn toàn để trở thành Trung tâm mua sắm Eden Mall, và nay cũng đóng cửa để xây dựng khu thương mại.

Rạp Majestic – 13, 15, 17 Đồng Khởi, quận 1.

Rạp Majestic hiện nay là nhà hàng Maxim' Nam An

Rạp Majestic hiện nay là nhà hàng Maxim’ Nam An. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Majestic cũng là rạp hạng sang và đẹp. Rạp này nằm sát bên khách sạn Majestic ở cuối đường Tự Do gần bến Bạch Đằng, đối tượng xem phim chủ yếu là người Pháp.

Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Nơi đây được xây thành vũ trường Maxim tầng trên và sân khấu trình diễn ca vũ nhạc kịch tầng dưới do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách. Dường như sau 1975 có thời gian thuộc quyền khai thác nhà hàng của nghệ sĩ Bảo Quốc (*).

Rạp REX – góc đường Lê Lợi & Nguyễn Huệ

Rạp REX xưa và nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Ngày trước, miệt Sài Gòn (các quận trung tâm TP.HCM ngày nay) có nhiều rạp hát. Sang trọng nhất là rạp Rex trên đường Nguyễn Huệ

Rạp Lê Lợi – 112 Lê Thánh Tôn, quận 1.

Rạp Lê Lợi hiện nay là phòng trà Không Tên

Rạp Lê Lợi hiện nay là phòng trà Không Tên. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp gần chợ Bến Thành, chuyên chiếu phim cũ nhưng tuyển chọn toàn phim hay và chỉ chiếu trong 1, 2, hoặc 3 ngày rồi đổi sang chiếu phim khác. Tuy nhiên, nếu hụt xem phim nào thì khán giả cứ kiên nhẫn chờ đợi, một thời gian sau thế nào phim đó cũng sẽ được chiếu lại. Cái hay là lịch chiếu phim được niêm yết trước để khán giả có thể chọn ngày đi xem.

Rạp Lê Lợi có thể nói là rạp duy nhất ở Sài Gòn chiếu phim theo phương thức này, một ít rạp khác có bắt chước phần nào nhưng rồi cũng không theo được hoặc sau đó phải thay đổi cách làm khác. Khách hàng thường xuyên của rạp Lê Lợi là những sinh viên, học sinh vì rạp chiếu phim cũ nhưng lại hay và giá vé rất nhẹ. Thời đó, đi học ngày hai buổi nên buổi chiều nào chán hoặc lười học bọn trẻ, trai cũng như gái, rủ nhau ‘cúp cua’ đi xem xi- nê ở rạp này. Cũng chính vì rạp này có nhiều nữ sinh đến xem nên các chị em rất hay bị thả dê tại đây.

Sau 1975, rạp Lê Lợi trở thành vũ trường, bar và liên tiếp thay đổi chủ. Nay là phòng trà Không Tên.

Rạp Casino Saigon – đường Pasteur

Rạp Casino Saigon hiện nay đã bị đập để xây dựng cao ốc. Ảnh: Internet

Casino Saigon là rạp hạng nhì, thuộc loại trung bình nên giá vé nới hơn rạp hạng nhất.

Ngay bên cạnh Casino Saigon có hẻm Casino nổi tiếng không kém gì rạp xi-nê Casino. Phim chiếu ở Casino có thể dở hoặc hay tùy theo sở thích của người xem nhưng có điều ghé vào hẻm Casino người ta sẽ hài lòng với các món ‘khoái khẩu’ mang hương vị đất Bắc.

Chủ nhân của các quán trong hẻm Casino đa số là dân ‘Bắc kỳ di cư’ nên có những món ‘tuyệt cú mèo’ như bún chả, bún thang, bún riêu, bánh tôm và dĩ nhiên là phở… Các quán tại đây không thuộc loại sang nhưng giá tiền lại hơi đắt, có lẽ vì nằm ngay trung tâm Sài Gòn. Hẻm Casino thuở ấy rộn rã nam thanh, nữ tú ra vào suốt ngày, nhất là mỗi chiều thứ bảy, cả ngày chủ nhật, sau khi cùng dòng người “bát phố”. Bây giờ “Hẻm Casino” chỉ còn là một trong vô vàn những nơi ăn uống của thành phố đông dân nhất nước này. Hoặc bạn có thể đổi món bằng cách băng qua đường Lê Lợi để thưởng thức dĩa bò bía đi kèm với nước mía Viễn Đông thì còn gì bằng.

Rạp Casino Saigon sau đổi tên là Vinh Quang. Năm 2011 bị đập bỏ và thành làng ẩm thực Vũng Tàu. Hiện tại đang là 1 công trình xây dựng cao ốc.

Rạp Vĩnh Lợi – 121 Lê Lợi, quận 1.

Rạp Vĩnh Lợi hiện nay là sàn giao dịch chứng khoán. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Đi tới ngã tư Lê Lợi và Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) là rạp Vĩnh Lợi, bên cạnh Bệnh viện Sài Gòn. Rạp Vĩnh Lợi nổi tiếng trong giới ‘bê-đê’ vì đây là nơi bạn có thể bị bất ngờ vì một bàn tay xờ xoạng của một chàng ‘gay’ ngồi ngay bên cạnh. Khoảng đầu thập niên 60, có xảy ra một vụ nổ lựu đạn trong rạp, may mắn gần Bệnh viện Sài Gòn nên các nạn nhân chỉ cần bước vài bước được cấp cứu ngay. Nếu như Casino Saigon có nước mía Viễn Đông thì rạp Vĩnh Lợi có quán cơm Thanh Bạch cũng nổi danh không kém.

Rạp Vĩnh Lợi chuyển thành showroom xe hơi của hãng Daewoo rồi nay thành sàn giao dịch chứng khoán.

Hướng về chợ cũ, đi ngang qua các hàng bánh mì nổi tiếng để đến đường Tôn thất Đạm, bạn có thể vào xem phim bình dân ở rạp Nam Việt. Rạp nhỏ và rất nóng nực.

Đi một đoạn ngắn tới đường Công Lý (cũng góc Lê Lợi) ta thấy rạp Asam mà dân Saigon thường gọi là “Á sẩm”. Sau đó có lẽ chủ rạp thấy tên “Á sẩm” mất gốc quá nên đổi lại là Hồng Bàng cho nó đúng điệu Giao chỉ. Ném về phương diện phim ảnh và cơ sở thì rạp này “ngang cơ” với Casino Saigon. Còn về tiết mục phụ diễn ăn uống, nếu Casino Saigon có nước mía Viễn Đông thì Hồng Bàng có tuyệt chiêu suông Thanh Thế rất nổi tiếng trong giới có tâm hồn ăn uống.

Rạp Hồng Bàng (còn có tên là Asam hay Á Sẩm) nằm trên góc đường Lê Lợi và Nam Kỳ Khởi Nghĩa (trước là đường Công Lý). Sau 1975 cũng chịu chung số phận với rạp Nam Việt một phần vì ế ẩm, chủ sở hữu không chịu đầu tư, nâng cấp nên khán giả vào rạp xem phim hay bị nóng nực, ghế ngồi bị hư hỏng nhiều lại thêm rệp, chuột…, phần vì những rạp này nằm nơi chợ búa nên rất nhiều những khán giả là trẻ con hay nhưng người sống quang đó vào xem. Chính vì nhà gần nên việc đi xem phim không được xem trọng, những khán giả này ăn mặc xuề xòa, nói năng ồn ào thậm chí bọ trẻ còn chạy giỡn om xòm giữa và leo treo qua các hàng ghế gây mất mỹ quan và ảnh hưởng đến không khí xem phim của các khán giả đứng đắn khác.

Băng qua đại lộ Hàm Nghi thì có rạp Cathay trên đường Nguyễn Công Trứ

Rạp Kim Châu – 15, 17 Nguyễn Thái Bình, quận 1.

Rạp Kim Châu nay là nhà hát cải lương Bông Sen

Rạp Kim Châu nay là nhà hát cải lương Bông Sen. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Cách đó không xa là rạp Kim Châu trên đường Nguyễn Văn Sâm (nay là Nguyễn Thái Bình), góc Hàm Nghi,  tương đối còn mới và chiếu phim cũng “xịn” lắm. Sau 1975, rạp Kim Châu còn hoạt động một thời gian, sau là sân khấu kịch của nghệ sĩ Hồng Vân, nay là nhà hát Bông Sen chuyên diễn cải lương.

Tiếp tục đi về hướng cầu Ông Lãnh gần chợ Dân Sinh có rạp chiếu bóng nhỏ tên là Kim Đô.

Rạp Đại Nam – 79 Trần Hưng Đạo, quận 1.

Rạp Đại Nam xưa và nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Phim chiếu tại Đại Nam có cả phim Tàu (Đài Loan, Hồng Kông), nổi bật nhất là Mùa Thu Lá Bay với đôi trai tài gái sắc Đặng Quang Vinh và Chân Chân. Đó là thời tiểu thuyết của nữ văn sĩ Quỳnh Giao, ăn khách không kém truyện võ hiệp hấp dẫn của Kim Dung như Cô gái Đồ Long, Anh hùng xạ điêu, Lục đỉnh ký… (13)

Rạp Đại Nam nay trở thành khách sạn Đại Nam.

Rạp Long Thuận – 10 Trương Định, quận 1

Rạp Long Thuận nay là trụ sở 1 công ty thiết bị điện

Rạp Long Thuận nay là trụ sở 1 công ty thiết bị điện. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Tôi cá với các bạn vào coi phim ở rạp Long Thuận (ngang ga xe lửa Saigon phía đường Lê Lai) mà dám ngồi ghế đàng hoàng. Tại sao lọa vậy? Thưa vì đó là mật khu của rệp. Hổng biết chúng theo con đường nào mà tràn ngập rạp. Từ chân ghế, mặt ghế, thành ghế đến lưng ghế, chỗ nào tụi nó cũng đóng chốt hết. Muốn an toàn thì phải ngồi chồm hổm kiểu cán ngố vào nhà hàng, mà bố ai ngồi chồm hổm trong suốt 2 tiếng đồng hồ cho nổi. Thôi thì tránh rệp không xấu mặt nào vậy.

Rạp Long Phụng – 234 Lý Tự Trọng, quận 1

Rạp Long Phụng

Rạp Long Phụng. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Nằm trên đường Gia Long (bây giờ là Lý Tự Trọng) là rạp “chuyên trị” dòng phim thần thoại ca-vũ-nhạc Ấn Độ. Thuở ấy mấy bà mấy cô thuộc lứa tuổi U.50, U.60 thường là khán giả “ruột” của rạp này với những phim được xuất xưởng từ Ấn Độ đưa sang. Nhiều người vẫn coi đi coi lại mãi những phim như: “Tình Chị Duyên Em”, “Hồn Người Xác Rắn”…

Có thể Long Phụng chuyên về phim Ấn vì địa điểm của rạp rất gần với Chùa Chà Và trên đường Trương Công Định chăng? Nam tài tử Ấn Độ ăn khách nhất thời đó là Rama Rao, ông này sau thời 80-90 làm Thống đốc bang Pradesh thuộc miền Nam nước Ấn.

Rạp Kinh Đô – Lê Văn Duyệt

Năm 1960 rạp xi-nê Kinh Đô được xây mới trên đường Lê Văn Duyệt, chỗ nhìn sang Trụ sở Tổng liên đoàn Lao công Việt Nam. Rạp Kinh Đô mới khá hiện đại và đẹp. Máy chiếu phim và máy lạnh đều thuộc loại mới nhất. Khoảng năm 1961, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ mướn rạp Kinh Đô làm nơi chiếu phim cho nhân viên và gia đình làm việc ở Sài Gòn đến xem.
Năm 1962 có 1 vụ nổ bom plastic trong rạp. Có thể nói đây là vụ đánh bom đầu tiên tại Sài Gòn. Sau vụ nổ, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ không mướn rạp Kinh Đô nữa và rồi rạp này được phá đi, khu đất đó xây một tòa nhà là trụ sở USAID với nhiều tầng lầu.

Rạp Olympic – 97 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1.

Rạp Olympic nay là trung tâm văn hóa TPHCM. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Trên đường Hồng Thập Tự, giữa đường Lê Văn Duyệt và ngả ba Bùi Chu, có rạp chiếu bóng lớn tên Olympic, thường chiếu các phim ca nhạc với các tài tử Holywood nổi danh như: Gene Kelly, Frank Sinatra, Fred Aster, Ginger Roger, Esther William, và ban nhạc mambo với ông nhạc trưởng lúc nào cũng có chú chó Chihuahua trong túi áo… Đến khoảng 1954 gánh hát Kim Chung di cư từ ngoài Bắc vào đóng đô tại đây một thời gian dài.

Rạp Olympic sau 1975 đã trở vũ trường rồi hiện nay là Trung tâm Văn Hóa TPHCM.

Đi về khu vực chợ Thái Bình có khá nhiều rạp.

Rạp Thanh Bình – 343 Phạm Ngũ Lão, quận 1.

Rạp Thanh Bình hiện nay là cao ốc International Plaza

Rạp Thanh Bình hiện nay là cao ốc International Plaza. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp Thanh Bình sau này sửa sang lại thật lịch sự. Khi sửa lại mang tên là rạp Quốc Tế.

Đây là rạp mà tôi từng được xem bộ phim màn ảnh đại vĩ tuyến đầu tiên thời gian sau 1975, phim “Ta nói chuyện cùng, em nhé”. Và đây cũng là rạp mà bộ phim “Samson và nàng Dalilah” được nhà nước Cách mạng cho phép được chiếu lại như là một loại phim tư liệu. Dù là phim cũ thế nhưng phim cũng gây được cơn sốt vé khủng khiếp khi hàng nghìn người chen chúc nhau để mua cho được vé vào xem suốt thời gian công chiếu.

Rạp Khải Hoàn ngay góc Cống Quỳnh và Phạm Ngũ Lão

Rạp Khải Hoàn giờ là trung tâm điện máy

Rạp Khải Hoàn giờ là trung tâm điện máy. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp này thường chiếu phim Tây. Coi được nhưng kẹt cái thiếu máy lạnh, ai vào xem cũng cứ muốn… ‘yêu nhau cởi áo cho nhau’.

Nơi đây thường hay chiếu những phim đặc dị như phim: “Cây Nhân Sinh”, “Con Quỷ Đường Nhà Xác”, “Dracula”… thường câu khách bằng việc treo bảng “Cấm trẻ em dưới 18 tuổi”

Rạp Khải Hoàn “chia” cho Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ Kịch, giờ đã trở thành trung tâm điện máy.

Rạp Quốc Thanh – 271 Nguyễn Trãi, quận 1.

Rạp Quốc Thanh hiện nay trở thành Trung tâm giải trí văn hóa Quốc Thanh

Rạp Quốc Thanh hiện nay trở thành Trung tâm giải trí văn hóa Quốc Thanh. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Nằm đối diện Tổng Nha Cảnh sát Quốc gia. Rạp khá khang trang, sau trở thành sân khấu cải lương mà đoàn Dạ Lý Hương đóng đô thường trực.

Tân Định – Đakao

Rạp Asam Đakao– Đinh Tiên Hoàng, khu Đa Kao

Rạp này đã dẹp quá lâu rồi, ít ra là vào khoảng từ giữa đến cuối thập niên 50. Rạp nằm trong một hẻm nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng gần góc đường Phan Thanh Giản. Gần đó có tiệm mì Cây Nhãn nổi tiếng một thời. (2)

Trường hợp rạp xưa, cổ lỗ, không có khách cũng xẩy ra với rạp xi-nê Asam ở Dakao nằm trên đường Ðinh Tiên Hoàng gần Mì cây Nhãn. Nếu từ Casino Dakao đi lại thì rạp Asam nằm bên lề phải, còn Mì Cây Nhãn nằm xéo bên lề trái. Vào khoảng năm 1965 rạp Asam cũng bị phá đi và cũng lại xây chung cư. (3)

Rạp Casino Đakao

Rạp Casino Đakao xưa và nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

nay đổi tên là rạp Cầu Bông, ở vòng cung đường Đinh Tiên Hoàng chạy tới Cầu Bông thuộc phạm vi quận Bình Thạnh.

Rạp Văn Hoa Đakao – đường Trần Quang Khải

Rạp Kinh Đô & Kinh Thành ngày nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Chỉ cách nhau chưa đầy ba phút đi bộ, mà khu Tân Định có đến hai rạp ciné. Bên hông chợ là Tân Định là rạp Mô-Đẹc và mặt trước của chợ là rạp Kinh Thành. Hai rạp bình dân này thay phiên nhau chiếu phim Ấn Độ và phim cao bồi. Để thay đổi không khí, thỉnh thoảng lại mời các gánh cải lương hay Hồ Quảng về trình diễn, làm nghẽn cứng cả xe cộ lưu thông vào những giờ sắp mở màn hay vãn hát.

Việt Long – 19 Cao Thắng, quận 3

Khu vực Bàn Cờ, đi dài theo đường Cao Thắng, bạn có thể vào coi rạp Việt Long (còn gọi là rạp Capitol) ngay ngã ba với Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần) cũng thuộc loại khá. Rạp từng chiếu phim The French Connection do diễn viên Michale Caines đóng. Năm 1964, rạp bị đánh bom. Năm 1970, đổi tên thành Thăng Long và tồn tại đến ngày 16/03/2012 bị phát hỏa do bất cẩn của các thợ hàn trong quá trình sữa chữa rạp. Hiện rạp đang được lên kế hoạch xây mới hoàn toàn.

Nam Quang – 147 Cách Mạng Tháng Tám, quận 3

Rạp Nam Quang hiện nay

Rạp Nam Quang hiện nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Nếu đi về hướng Trần Quí Cáp (nay là Võ Văn Tần) sẽ gặp rạp Nam Quang nằm ngay góc với đường Lê Văn Duyệt (nay là CMT8), chéo góc với chợ Đũi. Rạp thuộc loại bình dân.

Đại Đồng (Sài Gòn) – 130 Cao Thắng, quận 3

Rạp Đại Đồng hiện nay

Rạp Đại Đồng hiện nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Nếu đi tiếp trên đường Cao Thắng sẽ thấy rạp nhỏ mang tên Đại Đồng, chuyên chiếu phim cũ nhưng khá chọn lọc, giá cả thật nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện. Hơn nữa, gần rạp này còn có nhiều quán ăn bình dân như bò viên, bò bía nên khi tan xuất hát có thể ghé vào đây kiếm món gì đó cho ấm bụng. Xin nhắc các đấng mày râu, hẻm Đại Đồng còn có khu ‘chị em ta’ nên có thể… một công đôi việc!

Long Vân – 643 Điện Biên Phủ, quận 3

Rạp Long Vân xưa và nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Quẹo qua đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) về hướng ngã bảy, nơi tọa lạc rạp Long Vân thuộc loại kha khá. Rạp lúc nào cũng đông khán giả, chắc nhờ ở ngay trung tâm nhân mãn của Saigon: cư xá Bàn Cờ, cư xá Đô Thành, chung cư Minh Mạng.

Rạp Thanh Vân – 360A CMT8, quận 3

Rạp Thanh Vân ngày nay

Rạp Thanh Vân ngày nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Trên đường Lê Văn Duyệt ngoài hai rạp Kinh Đô và Nam Quang ở vùng Sài Gòn thì đi lên Tân Bình còn có rạp Thanh Vân.

Sau 1975, rạp hát Thanh Vân vẫn còn hoạt động một thời gian, sau đó không hoạt động nữa và mặt bằng được cho thuê. Sau đó vài năm được nghệ sĩ Phước Sang đã thuê và mở lại thành rạp chiếu phim Thanh Vân như xưa. Nhưng rạp hát chỉ chiếu phim do chính Phước Sang sản xuất, hầu như chỉ thu hút khách vào dịp Tết Nguyên Đán, còn trong năm thì khá vắng.

Rạp Thanh Vân hiện nay là Nhà hát giao hưởng vũ kịch thành phố.

Rạp Minh Châu – Lê Văn Sỹ, quận 3

Vị trí rạp Minh Châu ngày nay

Vị trí rạp Minh Châu ngày nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp Minh Châu nằm trên đường Trương Minh Ký (nay Lê Văn Sỹ), gần nhà thờ Nam Vườn Xoài. Thập niên 60 rạp hát Minh Châu tên là Văn Lang, đóng cửa một thời gian dài, sau đó mở lại lấy tên mới là Minh Châu.

Mỹ Đô – góc Trần Nhân Tôn và Vĩnh Viễn, quận 10

Rạp Mỹ Đô ngày nay là rạp chiếu bóng Vườn Lài

Rạp Mỹ Đô ngày nay là rạp chiếu bóng Vườn Lài. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Khu quận 10 gần ngã bảy, đường Vĩnh Viễn là rạp Thành Chung (Vườn Lài) mà khán giả vào xem có cái “thú đau thương” là nếu trời nóng thì tắm hơi, còn trời mưa thì tắm nước từ nóc rạp dột xuống.

Hùng Vương -286 Lê Hồng Phong, quận 10

Rạp Hùng Vương hiện nay là Hãng Phim Trẻ

Rạp Hùng Vương hiện nay là Hãng Phim Trẻ. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Kha Lạc – 200 Nguyễn Tri Phương, quận 10

Rạp Kha Lạc nay là khách sạn

Rạp Kha Lạc nay là khách sạn. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp Kha Lạc chuyên chiếu phim Tàu. Thập niên 60 thì bị đập và chuyển thành nhà ở.

CHOLON

Từ Sài Gòn đi trên đường Trần Hưng Đạo và Đồng Khánh (nay là Trần Hưng Đạo B) về phía Chợ Lớn sẽ bắt gặp rất nhiều rạp. Vì những rạp này nằm giữa khu Sài Gòn và Chợ Lớn nên chiếu cả phim Tây lẫn phim Tàu.

Oscar

Rạp cũng thuộc loại khá.

Palace – 890 Trần Hưng Đạo B, quận 5

Rạp Palace ngày nay là rạp Đống Đa

Rạp Palace ngày nay là rạp Đống Đa. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Chuyên chiếu phim Pháp-Mỹ “nước ba, nước bốn”. Về sau, các rạp này chuyển sang chiếu phim quyền cước Hong Kong cũ.

Lido – Trần Hưng Đạo B, quận 5

Rạp Lido bị đập khá lâu và hiện nay là bãi giữ xe

Rạp Lido bị đập khá lâu và hiện nay là bãi giữ xe. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp này có một lịch sử khá ly kỳ. Rạp nằm trong vùng Chợ Lớn cạnh Đại Thế Giới cũ chuyên chiếu phim Âu Mỹ trong khi các rạp chung quanh đều chiếu phim Tàu. Đến cuối thập niên 60, rạp ngưng hoạt động để cho Mỹ mướn làm khu cư trú và câu lạc bộ. Sau năm 1975, rạp hoạt động chiếu phim trở lại và chỉ mới gần đây, rạp đã bị đập phá ra để nhường chỗ cho một công trình xây dựng nhà cao tầng hay gì đó.

Hào Huê

Rạp Hào Huê sai 1975 đổi tên là rạp Nhân Dân

Rạp Hào Huê sai 1975 đổi tên là rạp Nhân Dân. Hiện nay bỏ không và bán cafe ở tầng trệt. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Lệ Thanh A – 25 Phan Phú Tiên, quận 5

Rạp Lệ Thanh A hiện nay

Rạp Lệ Thanh A hiện nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp khá sang trọng. Chuyên chiếu phim tình cảm Đài Loan mới nhập vào Sài Gòn. Trong đó, phim kinh điển Mùa thu lá bay thu hút đông đảo khán giả.

Rạp Lệ Thanh A hiện nay là địa điểm tập trung của nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật như: Trung tâm năng khiếu múa Lệ Thanh, đoàn kịch TPHCM, câu lạc bộ khiêu vũ

Tân Việt – 252 Trần Hưng Đạo B, quận 5

Rạp Tân Việt ngày nay

Rạp Tân Việt ngày nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Chuyên chiếu phim Pháp-Mỹ “nước ba, nước bốn”. Về sau, các rạp này chuyển sang chiếu phim quyền cước Hong Kong cũ

Hoàng Cung – Triệu Quang Phục

Rạp Hoàng Cung ngày nay là Cơ sở 2 Trung tâm văn hóa quận 5

Rạp Hoàng Cung ngày nay là Cơ sở 2 Trung tâm văn hóa quận 5. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp này thuộc loại “hạng bét” chuyên chiếu phim kiếm hiệp cũ mèm

Samtor –  153, 161 Lương Nhữ Học, quận 5

Rạp Samtor nay là cao ốc Sao Mai

Rạp Samtor nay là cao ốc Sao Mai. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Còn rạp mạt hạng Samtor trên đường Triệu Quang Phục chuyên chiếu phim kiếm hiệp “nát nước” tệ hơn. Đã đập trước 75

Đại Quang – 63, 65 Châu Văn Liêm

Chuyên chiếu “nước nhất” phim quyền cước mới nhập từ hãng SB (Shaw Brother) và Gia Hòa bên Hong Kong. Giá vé xem phim mới mắc mỏ.

Rạp Đại Quang nay là rạp Cinema 3B

Rạp Đại Quang nay là rạp Cinema 3B. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Victory Lê Ngọc – 102 Châu Văn Liêm, quận 5

Rạp Victory Lê Ngọc trước và sau 1975. Ảnh: Internet

Cùng với rạp Đại Quang. Rạp Lê Ngọc chuyên chiếu “nước nhất” phim quyền cước mới nhập từ hãng SB (Shaw Brother) và Gia Hòa bên Hong Kong. Giá vé xem phim mới mắc mỏ nhưng được cái tương đối sạch sẽ và có chút trật tự.

Năm 1973, rạp Lê Ngọc chiếu ra mắt phim Đường Sơn đại huynh với ngôi sao Lý Tiểu Long đóng vai chính. Khán giả ùn ùn tới rạp, mua vé xem từng suất phim trình diễn võ nghệ Lý Tiểu Long. Kế tiếp, rạp Lê Ngọc công chiếu các phim Tinh võ môn, Mãnh long quá giang, Long tranh hổ đấu, Trò chơi sinh tử đều do Lý Tiểu Long thủ diễn vai chính. Phim nào cũng gây tiếng vang lớn. Ăn khách mạnh. Lý Tiểu Long trở thành hiện tượng điện ảnh trong lòng người hâm mộ Sài Gòn – Chợ Lớn.

Rạp Victory Lê Ngọc sau 1975 đổi tên là rạp Toàn Thắng và tiếp tục chiếu phim. Hiện nay đã bị đập.

Phi Long – 59, 61 Xóm Củi, quận 8

Rạp Phi Long nay là nhà sách Lý Thái Tổ thuộc công ty Fahasa

Rạp Phi Long nay là nhà sách Lý Thái Tổ thuộc công ty Fahasa. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Khu vực Xóm Củi có rạp Phi Long thuộc loại bình dân học vụ chuyên chiếu phim đánh kiếm, ca múa, phép thuật Ấn Độ. Tuy nhiên tôi thích nhất cái màn xe ngựa uýnh trống tùng xình quảng cáo, 2 bên thành xe gắn 2 tấm paneau bành ky vẽ những cảnh action của phim đang trình chiếu. Xe chạy khắp phố phường, ngựa phi nhịp nhàng theo tiếng trống trong khi đám con nít rượt theo 2 bên xe hò hét vang trời để xin cho được tờ program đủ màu xanh đỏ trắng vàng.

Đô Thành – bên hông chợ Kim Biên

Rạp Đô Thành ngày nay

Rạp Đô Thành ngày nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Khu vực cầu Ba Cẳng có rạp hát Đô Thành chuyên chiếu phim quyền cước mới.

Hồng Liên – 259 Hậu Giang, quận 6

Rạp Hồng Liên nay là trung tâm giải trí Hồng Liên

Rạp Hồng Liên nay là trung tâm giải trí Hồng Liên. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp ban đầu tên là rạp Tân Lạc, khoảng thập niên 60 đổi tên là Hồng Liên. Rạp Hồng Liên chuyên chiếu “nước ba, nước bốn” phim quyền cước Hong Kong. Rạp này chuyên chiếu phim Tàu chuyển âm tiếng Việt. Đặc biệt của rạp này là rất nhiều con nít được người lớn dắt theo

Tân Bình – 146 Minh Phụng, quận 6

Rạp Tân Bình hiện nay là nhà sách Cây Gõ thuộc công ty Fahasa

Rạp Tân Bình hiện nay là nhà sách Cây Gõ thuộc công ty Fahasa. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp Tân Bình chuyên chiếu phim Ấn Độ nói tiếng Việt, có nam nữ tài tử xinh đẹp. Nam tài tử đánh kiếm, hóa phép như thần, nữ tài tử vừa múa vừa hát bằng giọng của nữ nghệ sĩ sầu não Út Bạch Lan.

Mỗi khi rạp Tân Bình có phim Ấn Độ mới như “Sữa rừng thay sữa mẹ”, “Tarzan về thành” vừa có ca vũ nhạc Ấn Độ, lại có nữ tài tử Ấn Độ hát 6 câu vọng cổ bằng giọng Út Bạch Lan. Phải ghi nhận sáng kiến của công ty chuyển âm Mỹ Phương.

Rạp Tân Bình sau này đổi tên thành rạp Cây Gõ chuyên diễn cải lương. Khi thời cực thịnh của cải lương đã qua và đi vào thoái trào, rạp chuyển đổi công năng và hiện nay là nhà sách Cây Gõ thuộc công ty Fahasa.

Hương Bình – Bình Tiên

Rạp Hương Bình bị bỏ hoang khá lâu sau 1975

Rạp Hương Bình bị bỏ hoang khá lâu sau 1975. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Còn rạp hạng bét Hương Bình chỉ chiếu phim “nát nước” quyền cước Hong Kong

Quốc Thái – 1557 Ba Tháng Hai, quận 11

Rạp Quốc Thái hiện nay cũng đang bị đập

Rạp Quốc Thái hiện nay cũng đang bị đập. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Quận 11 có rạp hát bình dân Quốc Thái chuyên chiếu phim Pháp-Mỹ cũ mèm.

GIA ĐỊNH

Văn Cầm (Phú Nhuận) – 222, 224 Phan Đình Phùng, quận Phú Nhuận

Rạp Văn Cầm xưa và nay. Ảnh: Internet & Hòn Ngọc Viễn Đông

Qua khỏi Tân Định là đến Phú Nhuận, trên đường Võ Di Nguy (nay là Phan Đình Phùng) đi về hướng Gò Vấp, bên tay phải là rạp Văn Cầm. Đây là rạp nhỏ nhưng để cạnh tranh khoảng đầu năm 1970 được sửa lại có máy lạnh.

Cẩm Vân – 287 Phan Đình Phùng, quận Phú Nhuận

Rạp Cẩm Vân hiện nay là chi nhánh của trường CĐKTĐN

Rạp Cẩm Vân hiện nay là chi nhánh của trường CĐKTĐN. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Đi thêm một chút bên tay trái gần ngã ba Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển) là rạp Cẩm Vân. Rạp Cẩm Vân có lẽ ngưng hoạt động từ sau 1975 và nay là cơ sở của trường Cao đẳng Kinh tế Đối Ngoại.

Cao Đồng Hưng – 475 Bạch Đằng, quận Bình Thạnh

Rạp Cao Đồng Hưng xưa và nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Nếu xuôi về hướng Gia Định theo đường Chi Lăng (nay là Phan Đăng Lưu) tới Lăng Ông sát bên chợ Bà Chiểu là rạp Cao Đồng Hưng. Sau 75 là rạp Gia Định, nay là nhà sách Thiêu Nhi thuộc công ty FAHASA.

Đại Đồng (Gia Định)

Rạp Đại Đồng (Gia Định) ngày nay.

Rạp Đại Đồng (Gia Định) ngày nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Lạc Xuân – 220 Nguyễn Văn Nghi, quận Gò Vấp

Rạp Lạc Xuân nay là nhà sách Lạc Xuân

Rạp Lạc Xuân nay là nhà sách Lạc Xuân. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp Lạc Xuân nằm trên đường Gia Long (nay là Nguyễn Văn Nghi). Rạp chiếu toàn phim cũ và cái projecteur chắc của Tây để lại nên phim cứ sọc rằn làm nhức mắt người xem.

Đông Nhì – 524, 526 Lê Quang Định, quận Gò Vấp

Rạp Đông Nhì ngày nay là 1 shop thời trang

Rạp Đông Nhì ngày nay là 1 shop thời trang. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp Đại Lợi – 91b2 Phạm Văn Hai, quận Tân Bình

Rạp Đại Lợi hiện nay là trung tâm mua sắm giải trí Unique

Rạp Đại Lợi hiện nay là trung tâm mua sắm giải trí Unique. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Rạp Đại Lợi nằm trên đường Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai) sát chợ Ông Tạ.

Rạp Tân Mỹ – 2/3 Trần Xuân Soạn, quận 7

Rạp Tân Mỹ ngày nay

Rạp Tân Mỹ ngày nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Chiếu phim một thời gian rồi chuyển qua diễn cải lương. Sau trở thành cơ sở của một xí nghiệp đông lạnh. Hiện nay đã bị đập và bỏ hoang thời gian dài.

Categories: Địa điểm giải trí | Tags: , | 14 Comments

Nhà thờ Huyện Sỹ

1. Vị trí: 

Số 1, đường Tôn Thất Tùng, Q1, Tp. Hồ CHí Minh.

Nhà thờ Huyện Sĩ

Nhà thờ Huyện Sĩ

2. Những nét chính:

Giáo xứ Chợ Đũi – Nhà thờ Huyện Sỹ thuộc giáo hạt Sài Gòn, Tổng Giáo phận Tp. HCM

– Thành lập giáo xứ : 1859.

– Khánh thành nhà thờ : 1905.

3. Về cái tên Chợ Đũi:

“Chợ Đũi” tức là chợ bán đũi. Đũi là thứ hàng dệt bằng tơ gốc, mặt hàng thô. Vải đũi mặc mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, chẳng những được người Việt ưa chuộng mà chinh phục được cả người Thái, người Lào, người Pháp… Chợ Đũi ra đời từ đầu thế kỷ XIX, nay thuộc khu vực phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, Tp.HCM, sau dời về góc đường Cách mạng thánh Tám và Võ Văn Tần, quận 3, Tp.HCM. Vì thế, cách viết “Chợ Đuổi” và từ đó hiểu “chợ bị đuổi” là không chính xác !

4. Về  thân thế ông Huyện Sỹ – Philipphê Lê Phát Đạt:

Theo học giả Vương Hồng Sểnông Huyện Sỹ (1841-1900), còn có tên là Lê Phát Đạt, người Cầu Kho, theo đạo Công giáo, tên thánh Philipphê. Thuở nhỏ tên ông tên Sỹ, nhưng khi học tiếng Latin ở Penăng, vì cùng tên với thầy dạy học nên đổi tên là Đạt. Thời đó rất hiếm người biết chữ (chữ quốc ngữ, chữ Hán) và nhất là tiếng Latin và tiếng Pháp, nên hầu hết những người được đào tạo từ trường dòng ra đều được trọng dụng, trong đó có ông Lê Phát Đạt. Ông được cử làm thông phán và phục vụ ở tỉnh Tân An nhiều năm.
Tương truyền, buổi đầu Tây mới qua, dân cư thưa thớt, tản mác, thực dân Pháp phát mãi ruộng đất vô thừa nhận với giá rẻ mạt mà vẫn không có người mua, thế rồi họ ép ông Sỹ mua. Bất đắc dĩ, ông phải chạy bạc khắp nơi để mua. Không ngờ mấy năm liên tiếp được mùa, ông trở nên giàu có. Trong nhà ông có treo câu đối :

“Cần giữ kiệm, trị gia thượng sách
Nhẫn nhi hoà, xử thế lương đồ.

Thời đó có câu “nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ  Định”, ông Huyện Sỹ đứng thứ nhất trong bốn người giàu nhất Sài Gòn và Nam kì : “nhất Sỹ”.

Ông Huyện Sỹ – Lê Phát Đạt – cũng chính là ông ngoại của bà Nguyễn Hữu Thị Lan (1914-1963), tức Nam Phương Hoàng Hậu, vợ vua Bảo Đại.

5. Lịch sử:

Nhà thờ Huyện Sỹ là một  nhà thờ công giáo cổ hơn 100 tuổi.

Nhà thờ do ông bà Lê Phát Ðạt, tức Huyện Sỹ, hiến đất và xuất 1/7 gia tài để xây dựng, thời giá lúc bấy giờ là khoảng trên 30 muôn (mười ngàn) đồng bạc Đông Dương. Khởi công xây dựng năm 1902 theo thiết kế của linh mục Bouttier[1], đến 1905 thì được khánh thành. Nhà thờ tọa lạc trên một khu đất cao và rộng hơn một mẫu, nằm ở góc đường Frère Louis (nay là đường Nguyễn Trãi) và Frère Guilleraut (nay là đường Tôn Thất Tùng).

Ban đầu nhà thờ có tên là Nhà thờ Chợ Đũi do thuộc họ đạo Chợ Đũi. Mặt khác, do Thánh Philípphê tông đồ là bổn mạng của Huyện Sỹ nên còn được gọi là Nhà thờ Thánh Philípphê. Tuy vậy, dân gian vẫn gọi là Nhà thờ Huyện Sỹ, và sau đó dần trở thành tên chính thức của nhà thờ này.

6. Khuôn viên:

Nhà thờ Huyện Sỹ được đánh giá là có khuôn viên rộng rãi khoáng đãng nhất ở Sài Gòn. Phía trước nhà thờ có tượng đài thánh tử đạo Việt Nam là Mátthêu Lê Văn Gẫm. Gần cổng chính còn có đài thiên thần hộ thủ và tượng đài Thánh Giuse.

Bên trái khuôn viên là núi Đức Mẹ Lộ Đức, được xây dựng năm 1960 để kính Đức Mẹ Lộ Đức. Hằng năm cứ vào ngày 11 tháng 2 dương lịch, các linh mục chính xứ Chợ Đũi có thói quen cử hành thánh lễ tại núi này để cầu nguyện đặc biệt cho các bệnh nhân.

Phía bên phải khuôn viên nhà thờ là đồi Canvê, có tượng chuộc tội rất lớn được xây dựng năm 1974 dưới thời linh mục Gioan Baotixita Dương Hoàng Thanh.

7. Kiến trúc:

Nhà thờ có chiều dài 40 mét, chia làm 4 gian, rộng 18 mét. Thiết kế ban đầu của nhà thờ Huyện Sỹ gồm 5 gian, tức khoảng 50 mét. Nhưng thời gian đó, nhà thờ tạm Chí Hòa bị hư hại trầm trọng, vì vậy, giới chức trong họ đạo Chợ Đũi đã xin cắt bớt 1 gian, dùng số tiền đó để xây nhà thờ Chí Hòa. Nhà thờ Chí Hoà đến nay vẫn còn, được tôn tạo nhiều lần nên rất khang trang.

Nhà thờ Huyện Sỹ dùng đá granite Biên Hòa để ốp mặt tiền và các cột chính điện, theo phong cách kiến trúc Gothic. Chính điện nhà thờ có vòm chịu lực dạng cung nhọn. Tường có nhiều cửa sổ dạng vòm đỉnh nhọn và được trang trí bằng lớp kính màu ghép hình mua từ Ý. Bên trong các gian tường có nhiều tượng thánh. Trên vòm cửa chính có tượng thánh Philípphê bổn mạng nhà thờ bằng đá cẩm thạch, đứng cầm cây thánh giá Phục sinh.

Ngọn tháp chuông chính cao 57 mét kể cả chiều cao thánh giá và con gà trống Gaulois. Bên trong tháp có 4 quả chuông được đặt đúc tại Pháp năm 1905. Hai quả lớn có đường kính 1,05 mét do con trai và con dâu Huyện Sỹ là ông Gioan Baotixita Lê Phát Thanh và bà Anna Đỗ Thị Thao tặng. Hai quả chuông nhỏ đường kính 0,95 mét không ghi tên người tặng, có lẽ là của ông bà Huyện Sỹ đặt đúc cùng năm.

Huyện Sỹ qua đời năm 1900 khi nhà thờ chưa xây dựng xong. Về sau khi vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài mất năm 1920, người ta mới đưa hai ông bà chôn ở gian chái sau cung thánh của nhà thờ này.

Tại gian chái bên trái là tượng bán thân ông Huyện Sỹ bằng thạch cao gắn cột đầu, phía sau là phần mộ bằng đá cẩm thạch được trang trí hoa văn. Trên mộ là tượng toàn thân ông Huyện Sỹ kê đầu trên hai chiếc gối bằng đá cẩm thạch được điêu khắc tinh xảo, đầu chít khăn đóng quay về cung thánh nhà thờ, mình mặc áo dài gấm hoa văn tinh xảo, hai tay đan vào nhau trước ngực, chân đi giày. Đối diện bên phải là tượng vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài (1845-1920), với tóc búi, cũng dựa trên hai chiếc gối, hai tay nắm trước ngực, mặc áo dài gấm, chân mang hài. Phía trong cùng còn có tượng bán thân của con trai và con dâu ông bà là Gioan Baotixita Lê Phát Thanh (bên phải) và Anna Đỗ Thị Thao (bên trái).

* Giờ lễ:

Lễ ngày thường : 5h , 17h30
Lễ Chủ nhật : 5h , 6h30 , 8h , 16h30 , 18h.

(Sưu tầm – Tổng hợp)

Categories: Di tích tôn giáo | Tags: | Leave a comment

Nhà thờ Chợ Quán

1. Vị trí: 120 Đường Trần Bình Trọng, Phường 2, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhà thờ Chợ Quán xưa

Nhà thờ Chợ Quán xưa

Nhà thờ Chợ Quán nay

Nhà thờ Chợ Quán nay

 

2. Lịch sử họ đạo Chợ Quán và nhà thờ Chợ Quán:

Giáo xứ Chợ Quán là một họ đạo cổ vì lịch sử họ đạo gắn liền với quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của Đất nước và có tuổi gần đến ba thế kỷ kể từ ngày khởi lập năm 1723, khi có nhiều di dân muốn khởi nghiệp trên vùng đất mới phía Nam, nhiều giáo dân xuất xứ từ khắp nơi tề tựu lại thành Họ đạo Chợ Quán. Danh xưng Chợ Quán không biết có từ thời gian nào, chỉ biết các bô lão nói rằng, nhiều di dân có cùng nghề, cùng lòng tin tạo nên Xóm Bột, có chợ, có nhiều lều quán nên hình thành cái tên Chợ Quán.

Trong thời gian từ 1834 – 1859, khi vua nhà Nguyễn tỏ rõ ý chống lại đạo Công giáo thì cuộc bách hại đạo cũng bắt đầu. Họ đạo Chợ Quán không được sinh hoạt bình thường. Giáo dân vừa lo cho thân mình vừa phải bảo vệ các cha nên phải di chuyển đây đó rất cực. Có lúc Chợ Quán không còn nhà thờ, cha phải lẩn trốn trong nhà dân, hoặc phải giả dạng người thường trong đám cưới hay đám ma; còn Thánh lễ được cử hành vào ban đêm, Giáo lý do cha mẹ dạy cho con cái… nhưng các giới chức vẫn trợ giúp các cha và cộng đoàn giáo dân một cách tích cực. Khi quân Pháp xâm lăng Sài Gòn thì triều đình nhà Nguyễn gia tăng tìm giết người có đạo, nhiều người giáo dân Chợ Quán bị bắt đi phân sáp vào 18 thôn vườn trầu nhưng chính những người này tạo điều kiện cho nhiều người biết đến Chúa và làm nòng cốt phát triển thành các họ đạo về sau như Hóc Môn, Bà Điểm, Tân Hưng và Chợ Cầu.Khi quyền binh chính trị lần lượt rơi vào tay người Pháp thì người Công giáo được truyền đạo và giữ đạo tự do.

Họ đạo Chợ Quán được phục hồi và phát triển về nhiều mặt, có sự trợ giúp đắc lực của các nữ tu Hội dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán. Niềm tin của giáo dân được củng cố, các hội đoàn được thành lập, cơ sở vật chất được xây dựng khang trang, truyền giáo để tăng trưởng số giáo dân, mở rộng để phát triển những họ đạo mới như Chánh Hưng, Bình Xuyên, Môi Khôi…Với chiều dài thời gian, họ đạo đã có nhiều vị mục tử được sai đến chăm sóc và đến nay nhà thờ được xây dựng là ngôi thánh đường thứ tám, theo thứ tự các năm 1720, 1727, 1733, 1775, 1789,1793, 1862 và 1986; như thế ngôi thánh đường còn lại đến nay là nhà thờ lần thứ tám, được khánh thành vào năm Bính Thân 1896.

3. Đặc điểm:

Chức năng: thuộc giáo xứ Chợ Quán.

Nhà thờ Chợ Quán kiến trúc theo kiểu Gothique đặc trưng của phương Tây, trải qua hơn 100 năm nhưng vẫn uy nghi, đồ sộ nhất khu vực chợ Lớn. Các cánh cửa đều theo cấu trúc mái vòm cong, những cột đá to với những hoa văn độc đáo, mái ngói đỏ đã thẩm màu rêu phong cổ kính. Khi bước qua cửa chính của Thánh đường, sẽ thấy thật tráng lệ. Giữa là Bàn Thánh và tượng Chúa chịu nạn, bên trái là bàn thờ Đức Mẹ, bên phải là bàn thờ Thánh Cả Giuse, ngoài ra, hai bên còn có tượng các Thánh.

Các khung cửa sổ không được ốp kính màu như các nhà thờ lớn khác, bên trong có 4 dãy ghế lớn và 2 dãy ghế nhỏ. Đối diện với Bàn Thánh, phía trên là hình Chúa Jesus – Vua vũ trụ và phía dưới bức ảnh đó có một lối nhỏ để đi vào tháp chuông.

Tháp chuông gồm có ba tầng: tầng kéo chuông, tầng để chuông và tầng trên cùng. Tháp tổng cổng có 5 quả chuông: 2 chuông kéo thường ngày, 2 chuông dùng cho Lễ Lớn và 1 chuông báo tử, vào những ngày rất đặc biệt thì cho kéo 5 quả chuông cùng một lúc. Đứng trên tầng trên cùng, có thể nhìn thấy toàn Quận 5. Nhưng điều đặc biết về tháp chuông này là những quả chuông được đúc từ Pháp và vận chuyển qua đây bằng đường thủy. Để vận chuyển những quả chuông này lên tháp, người ta không sử dụng sức người hay sức máy, mà người ta sử dụng sức của 5 con voi. Cho đến nay thì tháp chuông đã được sửa chữa 3 lần.

Tháp chuông nhà thờ

Tháp chuông nhà thờ

Khuôn viên 16.922m2, vẫn rộng rãi để xây một Nhà giáo lý 12 phòng và một hội trường; Nhà hài cốt, tu sửa phòng thánh. Một hệ thống âm thanh trong ngoài nhà thờ, một nhà sách, một bàn thờ đá…- Tất cả những công trình đó do cha xứ khởi xướng, giáo dân chung tay xây dựng, nhưng ý nghĩa nhất vẫn là công trình xây dựng cộng đoàn đức tin. Bản tin Họ Đạo Chợ Quán được phát hành hàng tháng, được chuyển đến từng gia đình qua hệ thống chín giáo khu, tập trung vào những thông tin của Giáo Hội Hoàn Vũ và Giáo Hội Việt Nam. Và một cộng đòan bác ái với các họat động: lớp học tình thương, phòng khám bệnh và phát thuốc miễn phí, lớp dạy cắt may, Hội Bác ái Vinh Sơn, giúp các xứ nghèo xây sửa nhà thờ.

Tượng Chúa trong khuôn viên nhà thờ

Tượng Chúa trong khuôn viên nhà thờ

(Sưu tầm)

Categories: Di tích tôn giáo | Tags: | Leave a comment

Chợ Bến Thành

Chợ Bến Thành là một trong những địa điểm tiêu của Sài Gòn. Ít ai biết được cái tên chợ Bến Thành lại trải qua bao thăng trầm lịch sử, qua hai lần di dời, thay đổi địa điểm và nhiều lần xây cất, sửa chữa do bị cháy, sập, để cuối cùng chợ nằm ở vị trí hiện nay, ngay trung tâm Sài Gòn và được xem là biểu tượng của Sài Gòn.

1. Vị trí:

– Cửa Nam:

Nằm trên đường Place Cuniac, tên đặt theo viên Xã Tây (Ủy viên Hội đồng) Cuniac, người đã đề ra công việc lấp ao (vào thời Pháp). Người Việt thì quen gọi đó là Bùng binh Chợ Bến Thành. Đến thời VNCH tên đường được đổi thành “Công trường Cộng Hòa”, “Công trường Diên Hồng”. Đến ngày nay được đổi thành “Công Trường Quách Thị Trang”

– Cửa Bắc:

Nằm trên đường Rue d’Espagne (thời pháp). Đến thời VNCH: tên đường đó được đổi thành đường Lê Thánh Tôn và được giữ nguyên tên cho đến ngày nay.

– Cửa Đông:

Nằm trên đường rue Viénot (thời Pháp). Đến thời VNCH tên đường được đổi thành đường Phan Bội Châu và được giữ nguyên tên cho đến ngày nay.

– Cửa Tây:

Nằm trên đường rue Schroeder (thời Pháp) và đến thời VNCH đường đựơc đổi tên thành đừơng Phan Chu Trinh và được giữ nguyên tên cho đến ngày nay.

2. Nguồn gốc tên gọi chợ “Bến Thành”:

Nguyên thủy, chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp xâm chiếm Gia Định. Ban đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Định (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái). Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành, và khu chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành.

3. Lịch sử hình thành:

Chợ Bến Thành qua 2 lần di dời địa điểm, được người dân ngày ấy gọi là Chợ Cũ và Chợ Mới để phân biệt:

* Chợ Cũ – địa điểm đầu tiên của chợ Bến Thành:

Chợ Bến Thành thế kỷ 20

Chợ Bến Thành thế kỷ 20

Chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp xâm chiếm Gia Định. Ban đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Định. Chợ Bến Thành thời kỳ đầu được xây bằng gạch, sườn gỗ, lợp tranh, được mô tả như là “phố chợ nhà cửa trù mật ở dọc theo bến sông. Nơi buôn bán sầm uất, có bến đò ngang chở khách buôn ngoài biển lên., tụ tập trăm thứ hàng hóa, dọc bến sông ghe buôn lớn nhỏ đến đậu nối liền”. Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), thành Quy bị triệt hạ, phố chợ Bến Thành cũng không còn sầm uất như trước.

Trước khi Pháp đánh chiếm Gia Định, khu vực xung quanh thành Gia Định (bấy giờ là thành Phụng) mới chỉ có 100 ngàn dân và chợ Bến Thành là nơi đông đúc nhất. Cạnh khu chợ, dọc theo bờ sông Bến Nghé, các ghe thương thuyền thường đậu chen chúc nhau, tạo thành một thành phố nổi trên mặt nước. Tuy nhiên, khi ấy khu họp chợ trên bến mới chỉ là một dãy nhà trống lợp ngói.

Tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định và hai ngày sau, các binh lính người Việt đã tổ chức hỏa công thiêu rụi cả thành phố, tất nhiên chợ Bến Thành cũng bị thiêu hủy.

Sau khi đã vững chân trên mảnh đất Nam Kỳ, năm 1860, người Pháp đã cho cho xây cất lại chợ Bến Thành ở địa điểm cũ (thời Việt Nam Cộng hòa là địa điểm Tổng Ngân khố, nay là Trường đào tạo cán bộ ngân hàng trên đường Nguyễn Huệ). Ngôi chợ được xây cất bằng cột gạch, sườn gỗ, và lợp lá.

Đến tháng 7 năm 1870, chợ bị cháy mất một gian, phải xây cất lại bằng cột gạch, sườn sắt, lợp bằng ngói, tất cả có năm gian: gian thực phẩm, gian hàng cá, gian hàng thịt, gian hàng ăn uống và gian hàng tạp hóa. Trong năm gian hàng này, chỉ có gian hàng thịt được lợp bằng tôn, nền lót đá xanh.

Thời đó, khu chợ được xây dựng bên bờ phía nam một con kênh, được gọi là Kinh Lớn. Phía trước chợ, dọc bờ kênh là một con đường được người Pháp đặt tên là đường Charner, hay một tên gọi khác là đường Quảng Đông (Rue de Canton), bởi đa số người Hoa làm nghề buôn bán ở đây đều là người Quảng Đông. Phía đối diện bờ kênh là đường Rigault de Genouilly. Do vị trí nằm giao điểm của khu đô thị và hợp lưu của hai tuyến đường thủy là kênh Lớn và rạch Cầu Sấu (nay là đường Hàm Nghi), ghe thuyền có thể cập bến và đổ người lên chợ bất cứ ở phía bên này hay bên kia. Còn người bên đất liền muốn qua chợ thì có thể đi qua những chiếc cầu gỗ xinh xắn, do đó chợ Bến Thành luôn luôn nhộn nhịp.

Vào năm 1887, người Pháp cho lấp con kênh và sát nhập hai con đường lại làm một thành đại lộ Charner. Dân bản xứ gọi nôm là đường Kinh Lấp (nay là Đại lộ Nguyễn Huệ). Khu chợ càng trở nên đông đúc với các cửa hiệu phần nhiều là của người Hoa, người Ấn Độ và người Pháp. Tuy nhiên, khoảng giữa năm 1911, ngôi chợ trở nên cũ kỹ và lâm vào tình trạng có thể bị sụp đổ. Để tránh tai họa, người ta phải phá chợ, chỉ còn gian hàng thịt, vì mái tôn nhẹ, nên chưa bị phá. Đồng thời, người Pháp cũng lựa chọn một địa điểm để xây cất một khu chợ mới lớn hơn để phục vụ nhu cầu buôn bán sầm uất ngày càng phát triển. Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (nay là Bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay.

Một góc họp chợ Bến Thành trên đại lộ Charner dọc bờ Kinh Lớn (thời Pháp) nay là đường Nguyễn Huệ, Q1

Một góc họp chợ Bến Thành trên đại lộ Charner dọc bờ Kinh Lớn (thời Pháp) nay là đường Nguyễn Huệ, Q1

* Chợ Mới – Địa điểm thứ hai và cũng là vị trí hiện nay của chợ Bến Thành:

Khu vực xây chợ, vốn là một cái ao sình lầy cũ, gọi là ao Bồ Rệt (Marais Boresse), được người Pháp cho lấp đi. Khuôn viên chợ quy hoạch bốn mặt bởi bốn con đường.

Chợ Bến Thành ngày nay

Chợ Bến Thành ngày nay

Ngôi chợ mới do hãng thầu Brossard et Maupin khởi công xây dựng từ năm 1912 đến cuối tháng 3 năm 1914 thì hoàn tất. Lễ ăn mừng chợ khánh thành được báo chí thời đó gọi là “Tân Vương Hội”, do được diễn ra trong ba ngày 28, 29 và 30 tháng 3 năm 1914, với pháo bông, xe hoa và hơn 100.000 người tham dự, kể cả từ các tỉnh đổ về.

Khu chợ mới này vẫn mang tên gọi Bến Thành. Hai con đường bên hông chợ mãi đến năm 1940 còn là bến xe đò miền Đông và miền Tây. Về sau, bến xe này mới được dời đi chỗ khác.

Chợ Bến Thành hoạt động liên tục trong 70 năm. Từ ngày 1 tháng 7 đến 15 tháng 8 năm 1985, chợ Bến Thành được cải tạo và sữa chữa lớn.

Ngành hàng kinh doanh chủ yếu: Quần áo, vải sợi, giầy dép, thời trang, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm tươi sống, trái cây, hoa tươi.

(Nguồn: Wikipedia)

Categories: Những ngôi chợ | Tags: | 1 Comment

Chùa Vĩnh Nghiêm

1.Vị trí: tại số 339, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 7, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

Chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn

Chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn

2. Đặc điểm:

Đây là ngôi chùa có kiến trúc cổ truyền nhưng được xây dựng bằng chất liệu hiện đại. Ngoài ra chùa còn được ghi nhận là nơi có tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam, ngọn tháp 7 tầng, cao 40 m, nổi bật từ xa. cao 14m được khánh thành vào năm 2003. Tháp được xây dựng với nghệ thuật trổ đá dày đặc, công phu với hoa văn, họa tiết điêu khắc phủ kín… tất cả đều theo phong cách văn hóa Lý – Trần.

Chùa Vĩnh Nghiêm chỉ thờ ba bức tượng: Phật Thích ca mâu ni và hai vị Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi, Đại Hạnh Phổ Hiền[1]. Bàn thờ được thiết lập ở bửu điện: chính giữa là Phật Thích Ca, bên trái có Văn Thù Bồ Tát và bên phải là Phổ Hiền Bồ Tát. Những bức tượng này tương đối cao lớn, đường bệ, tương hợp thống nhất trong không gian chùa cao rộng. Ở hàng hiên lối vào chính điện, mỗi bên có một pho tượng Kim Cương Hộ Pháp khá lớn.

Hằng năm, vào ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, ngày đức Phật thành đạo, chùa Vĩnh Nghiêm đều tổ chức trọng thể lễ húy nhật Hòa Thượng Thích Thanh Hanh (1838-1936), cố Thiền gia pháp chủ Phật giáo Bắc Việt, được tôn xưng là tổ Vĩnh Nghiêm, có công rất lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo vào những năm đầu thế kỷ 20.

Tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam

Tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam

3. Lịch sử:

Năm 1964, hai hoà thượng Thích Tâm Giác và Thích Thanh Kiểm từ Bắc vào Nam truyền bá Phật giáo và đã cho xây chùa Vĩnh Nghiêm. Họ lấy nguyên mẫu thiết kế từ một ngôi chùa gỗ cùng tên ở xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Tạng Giang, tỉnh Bắc Giang, kiến lập từ đời vua Lý Thái Tổ, vốn là trung tâm truyền bá Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm.

Người vẽ kiểu cho công trình là kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng, người đầu tiên sử dụng vật liệu hiện đại nhưng giữ nguyên những giá trị kiến trúc chùa Việt Nam truyền thống, có sự cộng tác của các ông Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu. Kỹ sư Bùi Văn Tố thiết kế kỹ thuật và ban kiến thiết miền Vĩnh Nghiêm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhấtđiều hành thực hiện xây dựng công trình.

Chùa được khởi công năm 1964 tại khu sình lầy bên cạnh rạch sông Thị Nghè cũ. Trong quá trình thi công, phải đổ thêm 40.000 m³ đất lấp sình lầy. Công trình được hoàn thành về cơ bản vào năm 1971, gồm Phật điện, Bảo tháp và cơ sở văn hóa xã hội.

Tiền xây dựng được lấy từ đóng góp công đức của chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng tọa, Đại đức Tăng, Ni và Phật tử, chủ yếu có nguyên quán Bắc Việt sống tại miền Nam.

Năm 1982, chùa xây thêm Bảo tháp Xá Lợi Cộng Đồng, hoàn thành năm 1984. Tháp cũng được xây theo một kiểu khá độc đáo. Có các cầu thang từ sân dẫn lên tháp. Đây là nơi để lọ đựng tro thi hài người chết mà thân nhân của họ giữ ở chùa.

Tháp Xá Lợi Cộng Đồng

Tháp Xá Lợi Cộng Đồng

Tháp Đá gồm 7 tầng cao 14 m của chùa được hoàn thành vào ngày 27 tháng 12 năm 2003, được coi là tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam.

Ngòai ra chùa còn có Tháp Quan Âm, được xây bên trái chùa, có 7 tầng mái, cao 35m, bên trong tháp, mỗi tầng đều có bàn thờ Bồ tát Quan Thế Âm.

Tháp Quan Âm

Tháp Quan Âm

Ở bên trái chùa, còn có một tòa nhà lớn: tầng trệt là Thanh trai đường, tầng giữa là Tăng khách đường và tầng trên cùng là Thiền đường.

tầng trệt là Thanh trai đường, tầng giữa là Tăng khách đường và tầng trên cùng là Thiền đường.

tầng trệt là Thanh trai đường, tầng giữa là Tăng khách đường và tầng trên cùng là Thiền đường.

4. Kiến trúc:

Chùa Vĩnh Nghiêm giữ nét kiến trúc xưa với hàng mái ngói đao thẳng cong hai tầng ngay cổng tam quan; mái chùa với những lối đi nối qua khoảng sân đến toà nhà chính và màu sắc theo đúng đặc điểm của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Những công trình chạm khắc gỗ ở đây có bao lam tứ linh, bao lam cửu long và đặc biệt là có các phù điêu trên các hương án chạm các ngôi chùa danh tiếng tại Việt Nam và một số nước châu Á. Toàn thể Phật điện gồm ba lớp: Bái Điện, Bản Điện và Địa Tạng Đường kiến trúc theo kiểu chữ công. Các góc mái chùa đều uốn cong theo kiểu chùa miền Bắc: mái trước chồng diêm. Chính giữa đỉnh nóc có Bánh xe pháp luân và các góc có hình đầu phượng.

Tính đột phá trong kiến trúc ở chùa Vĩnh Nghiêm là việc sử dụng vật liệu bê tông, cốt thép trong một kết cấu hoàn toàn mới so với việc xây dựng chùa trước đó. Kết cấu này mang lại vẻ bề thế vững chãi, mọi chi tiết đều tôn nên sự uy nghi, rộng lớn.

(Nguồn: Wikipedia)

Categories: Di tích tôn giáo | Tags: | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.