Di tích tôn giáo

Nhà thờ Huyện Sỹ

1. Vị trí: 

Số 1, đường Tôn Thất Tùng, Q1, Tp. Hồ CHí Minh.

Nhà thờ Huyện Sĩ

Nhà thờ Huyện Sĩ

2. Những nét chính:

Giáo xứ Chợ Đũi – Nhà thờ Huyện Sỹ thuộc giáo hạt Sài Gòn, Tổng Giáo phận Tp. HCM

– Thành lập giáo xứ : 1859.

– Khánh thành nhà thờ : 1905.

3. Về cái tên Chợ Đũi:

“Chợ Đũi” tức là chợ bán đũi. Đũi là thứ hàng dệt bằng tơ gốc, mặt hàng thô. Vải đũi mặc mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, chẳng những được người Việt ưa chuộng mà chinh phục được cả người Thái, người Lào, người Pháp… Chợ Đũi ra đời từ đầu thế kỷ XIX, nay thuộc khu vực phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, Tp.HCM, sau dời về góc đường Cách mạng thánh Tám và Võ Văn Tần, quận 3, Tp.HCM. Vì thế, cách viết “Chợ Đuổi” và từ đó hiểu “chợ bị đuổi” là không chính xác !

4. Về  thân thế ông Huyện Sỹ – Philipphê Lê Phát Đạt:

Theo học giả Vương Hồng Sểnông Huyện Sỹ (1841-1900), còn có tên là Lê Phát Đạt, người Cầu Kho, theo đạo Công giáo, tên thánh Philipphê. Thuở nhỏ tên ông tên Sỹ, nhưng khi học tiếng Latin ở Penăng, vì cùng tên với thầy dạy học nên đổi tên là Đạt. Thời đó rất hiếm người biết chữ (chữ quốc ngữ, chữ Hán) và nhất là tiếng Latin và tiếng Pháp, nên hầu hết những người được đào tạo từ trường dòng ra đều được trọng dụng, trong đó có ông Lê Phát Đạt. Ông được cử làm thông phán và phục vụ ở tỉnh Tân An nhiều năm.
Tương truyền, buổi đầu Tây mới qua, dân cư thưa thớt, tản mác, thực dân Pháp phát mãi ruộng đất vô thừa nhận với giá rẻ mạt mà vẫn không có người mua, thế rồi họ ép ông Sỹ mua. Bất đắc dĩ, ông phải chạy bạc khắp nơi để mua. Không ngờ mấy năm liên tiếp được mùa, ông trở nên giàu có. Trong nhà ông có treo câu đối :

“Cần giữ kiệm, trị gia thượng sách
Nhẫn nhi hoà, xử thế lương đồ.

Thời đó có câu “nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ  Định”, ông Huyện Sỹ đứng thứ nhất trong bốn người giàu nhất Sài Gòn và Nam kì : “nhất Sỹ”.

Ông Huyện Sỹ – Lê Phát Đạt – cũng chính là ông ngoại của bà Nguyễn Hữu Thị Lan (1914-1963), tức Nam Phương Hoàng Hậu, vợ vua Bảo Đại.

5. Lịch sử:

Nhà thờ Huyện Sỹ là một  nhà thờ công giáo cổ hơn 100 tuổi.

Nhà thờ do ông bà Lê Phát Ðạt, tức Huyện Sỹ, hiến đất và xuất 1/7 gia tài để xây dựng, thời giá lúc bấy giờ là khoảng trên 30 muôn (mười ngàn) đồng bạc Đông Dương. Khởi công xây dựng năm 1902 theo thiết kế của linh mục Bouttier[1], đến 1905 thì được khánh thành. Nhà thờ tọa lạc trên một khu đất cao và rộng hơn một mẫu, nằm ở góc đường Frère Louis (nay là đường Nguyễn Trãi) và Frère Guilleraut (nay là đường Tôn Thất Tùng).

Ban đầu nhà thờ có tên là Nhà thờ Chợ Đũi do thuộc họ đạo Chợ Đũi. Mặt khác, do Thánh Philípphê tông đồ là bổn mạng của Huyện Sỹ nên còn được gọi là Nhà thờ Thánh Philípphê. Tuy vậy, dân gian vẫn gọi là Nhà thờ Huyện Sỹ, và sau đó dần trở thành tên chính thức của nhà thờ này.

6. Khuôn viên:

Nhà thờ Huyện Sỹ được đánh giá là có khuôn viên rộng rãi khoáng đãng nhất ở Sài Gòn. Phía trước nhà thờ có tượng đài thánh tử đạo Việt Nam là Mátthêu Lê Văn Gẫm. Gần cổng chính còn có đài thiên thần hộ thủ và tượng đài Thánh Giuse.

Bên trái khuôn viên là núi Đức Mẹ Lộ Đức, được xây dựng năm 1960 để kính Đức Mẹ Lộ Đức. Hằng năm cứ vào ngày 11 tháng 2 dương lịch, các linh mục chính xứ Chợ Đũi có thói quen cử hành thánh lễ tại núi này để cầu nguyện đặc biệt cho các bệnh nhân.

Phía bên phải khuôn viên nhà thờ là đồi Canvê, có tượng chuộc tội rất lớn được xây dựng năm 1974 dưới thời linh mục Gioan Baotixita Dương Hoàng Thanh.

7. Kiến trúc:

Nhà thờ có chiều dài 40 mét, chia làm 4 gian, rộng 18 mét. Thiết kế ban đầu của nhà thờ Huyện Sỹ gồm 5 gian, tức khoảng 50 mét. Nhưng thời gian đó, nhà thờ tạm Chí Hòa bị hư hại trầm trọng, vì vậy, giới chức trong họ đạo Chợ Đũi đã xin cắt bớt 1 gian, dùng số tiền đó để xây nhà thờ Chí Hòa. Nhà thờ Chí Hoà đến nay vẫn còn, được tôn tạo nhiều lần nên rất khang trang.

Nhà thờ Huyện Sỹ dùng đá granite Biên Hòa để ốp mặt tiền và các cột chính điện, theo phong cách kiến trúc Gothic. Chính điện nhà thờ có vòm chịu lực dạng cung nhọn. Tường có nhiều cửa sổ dạng vòm đỉnh nhọn và được trang trí bằng lớp kính màu ghép hình mua từ Ý. Bên trong các gian tường có nhiều tượng thánh. Trên vòm cửa chính có tượng thánh Philípphê bổn mạng nhà thờ bằng đá cẩm thạch, đứng cầm cây thánh giá Phục sinh.

Ngọn tháp chuông chính cao 57 mét kể cả chiều cao thánh giá và con gà trống Gaulois. Bên trong tháp có 4 quả chuông được đặt đúc tại Pháp năm 1905. Hai quả lớn có đường kính 1,05 mét do con trai và con dâu Huyện Sỹ là ông Gioan Baotixita Lê Phát Thanh và bà Anna Đỗ Thị Thao tặng. Hai quả chuông nhỏ đường kính 0,95 mét không ghi tên người tặng, có lẽ là của ông bà Huyện Sỹ đặt đúc cùng năm.

Huyện Sỹ qua đời năm 1900 khi nhà thờ chưa xây dựng xong. Về sau khi vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài mất năm 1920, người ta mới đưa hai ông bà chôn ở gian chái sau cung thánh của nhà thờ này.

Tại gian chái bên trái là tượng bán thân ông Huyện Sỹ bằng thạch cao gắn cột đầu, phía sau là phần mộ bằng đá cẩm thạch được trang trí hoa văn. Trên mộ là tượng toàn thân ông Huyện Sỹ kê đầu trên hai chiếc gối bằng đá cẩm thạch được điêu khắc tinh xảo, đầu chít khăn đóng quay về cung thánh nhà thờ, mình mặc áo dài gấm hoa văn tinh xảo, hai tay đan vào nhau trước ngực, chân đi giày. Đối diện bên phải là tượng vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài (1845-1920), với tóc búi, cũng dựa trên hai chiếc gối, hai tay nắm trước ngực, mặc áo dài gấm, chân mang hài. Phía trong cùng còn có tượng bán thân của con trai và con dâu ông bà là Gioan Baotixita Lê Phát Thanh (bên phải) và Anna Đỗ Thị Thao (bên trái).

* Giờ lễ:

Lễ ngày thường : 5h , 17h30
Lễ Chủ nhật : 5h , 6h30 , 8h , 16h30 , 18h.

(Sưu tầm – Tổng hợp)

Categories: Di tích tôn giáo | Tags: | Leave a comment

Nhà thờ Chợ Quán

1. Vị trí: 120 Đường Trần Bình Trọng, Phường 2, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhà thờ Chợ Quán xưa

Nhà thờ Chợ Quán xưa

Nhà thờ Chợ Quán nay

Nhà thờ Chợ Quán nay

 

2. Lịch sử họ đạo Chợ Quán và nhà thờ Chợ Quán:

Giáo xứ Chợ Quán là một họ đạo cổ vì lịch sử họ đạo gắn liền với quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của Đất nước và có tuổi gần đến ba thế kỷ kể từ ngày khởi lập năm 1723, khi có nhiều di dân muốn khởi nghiệp trên vùng đất mới phía Nam, nhiều giáo dân xuất xứ từ khắp nơi tề tựu lại thành Họ đạo Chợ Quán. Danh xưng Chợ Quán không biết có từ thời gian nào, chỉ biết các bô lão nói rằng, nhiều di dân có cùng nghề, cùng lòng tin tạo nên Xóm Bột, có chợ, có nhiều lều quán nên hình thành cái tên Chợ Quán.

Trong thời gian từ 1834 – 1859, khi vua nhà Nguyễn tỏ rõ ý chống lại đạo Công giáo thì cuộc bách hại đạo cũng bắt đầu. Họ đạo Chợ Quán không được sinh hoạt bình thường. Giáo dân vừa lo cho thân mình vừa phải bảo vệ các cha nên phải di chuyển đây đó rất cực. Có lúc Chợ Quán không còn nhà thờ, cha phải lẩn trốn trong nhà dân, hoặc phải giả dạng người thường trong đám cưới hay đám ma; còn Thánh lễ được cử hành vào ban đêm, Giáo lý do cha mẹ dạy cho con cái… nhưng các giới chức vẫn trợ giúp các cha và cộng đoàn giáo dân một cách tích cực. Khi quân Pháp xâm lăng Sài Gòn thì triều đình nhà Nguyễn gia tăng tìm giết người có đạo, nhiều người giáo dân Chợ Quán bị bắt đi phân sáp vào 18 thôn vườn trầu nhưng chính những người này tạo điều kiện cho nhiều người biết đến Chúa và làm nòng cốt phát triển thành các họ đạo về sau như Hóc Môn, Bà Điểm, Tân Hưng và Chợ Cầu.Khi quyền binh chính trị lần lượt rơi vào tay người Pháp thì người Công giáo được truyền đạo và giữ đạo tự do.

Họ đạo Chợ Quán được phục hồi và phát triển về nhiều mặt, có sự trợ giúp đắc lực của các nữ tu Hội dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán. Niềm tin của giáo dân được củng cố, các hội đoàn được thành lập, cơ sở vật chất được xây dựng khang trang, truyền giáo để tăng trưởng số giáo dân, mở rộng để phát triển những họ đạo mới như Chánh Hưng, Bình Xuyên, Môi Khôi…Với chiều dài thời gian, họ đạo đã có nhiều vị mục tử được sai đến chăm sóc và đến nay nhà thờ được xây dựng là ngôi thánh đường thứ tám, theo thứ tự các năm 1720, 1727, 1733, 1775, 1789,1793, 1862 và 1986; như thế ngôi thánh đường còn lại đến nay là nhà thờ lần thứ tám, được khánh thành vào năm Bính Thân 1896.

3. Đặc điểm:

Chức năng: thuộc giáo xứ Chợ Quán.

Nhà thờ Chợ Quán kiến trúc theo kiểu Gothique đặc trưng của phương Tây, trải qua hơn 100 năm nhưng vẫn uy nghi, đồ sộ nhất khu vực chợ Lớn. Các cánh cửa đều theo cấu trúc mái vòm cong, những cột đá to với những hoa văn độc đáo, mái ngói đỏ đã thẩm màu rêu phong cổ kính. Khi bước qua cửa chính của Thánh đường, sẽ thấy thật tráng lệ. Giữa là Bàn Thánh và tượng Chúa chịu nạn, bên trái là bàn thờ Đức Mẹ, bên phải là bàn thờ Thánh Cả Giuse, ngoài ra, hai bên còn có tượng các Thánh.

Các khung cửa sổ không được ốp kính màu như các nhà thờ lớn khác, bên trong có 4 dãy ghế lớn và 2 dãy ghế nhỏ. Đối diện với Bàn Thánh, phía trên là hình Chúa Jesus – Vua vũ trụ và phía dưới bức ảnh đó có một lối nhỏ để đi vào tháp chuông.

Tháp chuông gồm có ba tầng: tầng kéo chuông, tầng để chuông và tầng trên cùng. Tháp tổng cổng có 5 quả chuông: 2 chuông kéo thường ngày, 2 chuông dùng cho Lễ Lớn và 1 chuông báo tử, vào những ngày rất đặc biệt thì cho kéo 5 quả chuông cùng một lúc. Đứng trên tầng trên cùng, có thể nhìn thấy toàn Quận 5. Nhưng điều đặc biết về tháp chuông này là những quả chuông được đúc từ Pháp và vận chuyển qua đây bằng đường thủy. Để vận chuyển những quả chuông này lên tháp, người ta không sử dụng sức người hay sức máy, mà người ta sử dụng sức của 5 con voi. Cho đến nay thì tháp chuông đã được sửa chữa 3 lần.

Tháp chuông nhà thờ

Tháp chuông nhà thờ

Khuôn viên 16.922m2, vẫn rộng rãi để xây một Nhà giáo lý 12 phòng và một hội trường; Nhà hài cốt, tu sửa phòng thánh. Một hệ thống âm thanh trong ngoài nhà thờ, một nhà sách, một bàn thờ đá…- Tất cả những công trình đó do cha xứ khởi xướng, giáo dân chung tay xây dựng, nhưng ý nghĩa nhất vẫn là công trình xây dựng cộng đoàn đức tin. Bản tin Họ Đạo Chợ Quán được phát hành hàng tháng, được chuyển đến từng gia đình qua hệ thống chín giáo khu, tập trung vào những thông tin của Giáo Hội Hoàn Vũ và Giáo Hội Việt Nam. Và một cộng đòan bác ái với các họat động: lớp học tình thương, phòng khám bệnh và phát thuốc miễn phí, lớp dạy cắt may, Hội Bác ái Vinh Sơn, giúp các xứ nghèo xây sửa nhà thờ.

Tượng Chúa trong khuôn viên nhà thờ

Tượng Chúa trong khuôn viên nhà thờ

(Sưu tầm)

Categories: Di tích tôn giáo | Tags: | Leave a comment

Chùa Vĩnh Nghiêm

1.Vị trí: tại số 339, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 7, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

Chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn

Chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn

2. Đặc điểm:

Đây là ngôi chùa có kiến trúc cổ truyền nhưng được xây dựng bằng chất liệu hiện đại. Ngoài ra chùa còn được ghi nhận là nơi có tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam, ngọn tháp 7 tầng, cao 40 m, nổi bật từ xa. cao 14m được khánh thành vào năm 2003. Tháp được xây dựng với nghệ thuật trổ đá dày đặc, công phu với hoa văn, họa tiết điêu khắc phủ kín… tất cả đều theo phong cách văn hóa Lý – Trần.

Chùa Vĩnh Nghiêm chỉ thờ ba bức tượng: Phật Thích ca mâu ni và hai vị Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi, Đại Hạnh Phổ Hiền[1]. Bàn thờ được thiết lập ở bửu điện: chính giữa là Phật Thích Ca, bên trái có Văn Thù Bồ Tát và bên phải là Phổ Hiền Bồ Tát. Những bức tượng này tương đối cao lớn, đường bệ, tương hợp thống nhất trong không gian chùa cao rộng. Ở hàng hiên lối vào chính điện, mỗi bên có một pho tượng Kim Cương Hộ Pháp khá lớn.

Hằng năm, vào ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, ngày đức Phật thành đạo, chùa Vĩnh Nghiêm đều tổ chức trọng thể lễ húy nhật Hòa Thượng Thích Thanh Hanh (1838-1936), cố Thiền gia pháp chủ Phật giáo Bắc Việt, được tôn xưng là tổ Vĩnh Nghiêm, có công rất lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo vào những năm đầu thế kỷ 20.

Tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam

Tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam

3. Lịch sử:

Năm 1964, hai hoà thượng Thích Tâm Giác và Thích Thanh Kiểm từ Bắc vào Nam truyền bá Phật giáo và đã cho xây chùa Vĩnh Nghiêm. Họ lấy nguyên mẫu thiết kế từ một ngôi chùa gỗ cùng tên ở xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Tạng Giang, tỉnh Bắc Giang, kiến lập từ đời vua Lý Thái Tổ, vốn là trung tâm truyền bá Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm.

Người vẽ kiểu cho công trình là kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng, người đầu tiên sử dụng vật liệu hiện đại nhưng giữ nguyên những giá trị kiến trúc chùa Việt Nam truyền thống, có sự cộng tác của các ông Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu. Kỹ sư Bùi Văn Tố thiết kế kỹ thuật và ban kiến thiết miền Vĩnh Nghiêm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhấtđiều hành thực hiện xây dựng công trình.

Chùa được khởi công năm 1964 tại khu sình lầy bên cạnh rạch sông Thị Nghè cũ. Trong quá trình thi công, phải đổ thêm 40.000 m³ đất lấp sình lầy. Công trình được hoàn thành về cơ bản vào năm 1971, gồm Phật điện, Bảo tháp và cơ sở văn hóa xã hội.

Tiền xây dựng được lấy từ đóng góp công đức của chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng tọa, Đại đức Tăng, Ni và Phật tử, chủ yếu có nguyên quán Bắc Việt sống tại miền Nam.

Năm 1982, chùa xây thêm Bảo tháp Xá Lợi Cộng Đồng, hoàn thành năm 1984. Tháp cũng được xây theo một kiểu khá độc đáo. Có các cầu thang từ sân dẫn lên tháp. Đây là nơi để lọ đựng tro thi hài người chết mà thân nhân của họ giữ ở chùa.

Tháp Xá Lợi Cộng Đồng

Tháp Xá Lợi Cộng Đồng

Tháp Đá gồm 7 tầng cao 14 m của chùa được hoàn thành vào ngày 27 tháng 12 năm 2003, được coi là tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam.

Ngòai ra chùa còn có Tháp Quan Âm, được xây bên trái chùa, có 7 tầng mái, cao 35m, bên trong tháp, mỗi tầng đều có bàn thờ Bồ tát Quan Thế Âm.

Tháp Quan Âm

Tháp Quan Âm

Ở bên trái chùa, còn có một tòa nhà lớn: tầng trệt là Thanh trai đường, tầng giữa là Tăng khách đường và tầng trên cùng là Thiền đường.

tầng trệt là Thanh trai đường, tầng giữa là Tăng khách đường và tầng trên cùng là Thiền đường.

tầng trệt là Thanh trai đường, tầng giữa là Tăng khách đường và tầng trên cùng là Thiền đường.

4. Kiến trúc:

Chùa Vĩnh Nghiêm giữ nét kiến trúc xưa với hàng mái ngói đao thẳng cong hai tầng ngay cổng tam quan; mái chùa với những lối đi nối qua khoảng sân đến toà nhà chính và màu sắc theo đúng đặc điểm của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Những công trình chạm khắc gỗ ở đây có bao lam tứ linh, bao lam cửu long và đặc biệt là có các phù điêu trên các hương án chạm các ngôi chùa danh tiếng tại Việt Nam và một số nước châu Á. Toàn thể Phật điện gồm ba lớp: Bái Điện, Bản Điện và Địa Tạng Đường kiến trúc theo kiểu chữ công. Các góc mái chùa đều uốn cong theo kiểu chùa miền Bắc: mái trước chồng diêm. Chính giữa đỉnh nóc có Bánh xe pháp luân và các góc có hình đầu phượng.

Tính đột phá trong kiến trúc ở chùa Vĩnh Nghiêm là việc sử dụng vật liệu bê tông, cốt thép trong một kết cấu hoàn toàn mới so với việc xây dựng chùa trước đó. Kết cấu này mang lại vẻ bề thế vững chãi, mọi chi tiết đều tôn nên sự uy nghi, rộng lớn.

(Nguồn: Wikipedia)

Categories: Di tích tôn giáo | Tags: | Leave a comment

Nhà thờ Đức Bà

1. Vị trí:

Ban đầu, địa điểm xây cất được đề nghị ở 3 nơi:

  • Trên nền Trường Thi cũ (nay là góc đường Lê Duẩn và Hai Bà Trưng, tức vị trí tòa Lãnh sự Pháp).
  • Ở khu Kinh Lớn (tại vị trí nhà thờ cũ, nay thuộc đường Nguyễn Huệ).
  • Vị trí hiện nay: số 1, Công Xã Paris, P. Bến Nghé, Q1
Nhà thờ Đức Bà SG nhìn từ trên cao

Nhà thờ Đức Bà SG nhìn từ trên cao

2. Lịch sử hình thành:

Tháng 8 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ Duperré đã tổ chức một kỳ thi vẽ đồ án thiết kế nhà thờ mới. Ngoài mục tiêu có chỗ thờ phụng, hành lễ cho tín đồ, việc xây dựng nhà thờ lớn cũng nằm trong mục đích phô trương đạo Công giáo và sự vĩ đại của nền văn minh nước Pháp trước người dân thuộc địa. Vượt qua 17 đồ án thiết kế khác, đồ án của kiến trúc sư J. Bourad với phong cách kiến trúc Roman cải biên pha trộn nét phong cách kiến trúc Gotich đã được chọn.

Thống đốc Nam kỳ Duperré cho đấu thầu việc xây dựng nhà thờ và cũng chính kiến trúc sư này là người trúng thầu và trực tiếp giám sát công trình.

Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên trước mặt Phó soái Nam Kỳ và đông đủ nhân vật cấp cao thời ấy. Nhà thờ được xây dựng trong 3 năm. Lễ Phục sinh, ngày 11 tháng 4 năm 1880, nghi thức cung hiến và khánh thành do cố đạo Colombert tổ chức trọng thể với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers. Hiện nay, trên bệ phía trên, bên trong cửa ra vào nhà thờ, có chiếc bảng cẩm thạch gắn trong hành lang (transept) ghi ngày khởi công, ngày khánh thành và tên vị công trình sư. Tất cả mọi chi phí xây dựng, trang trí nội thất đều do Soái phủ Nam Kỳ đài thọ, với số tiền 2.500.000 franc Pháp theo tỷ giá thời bấy giờ. Ban đầu, nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Nhà Nước vì nó do nhà nước Pháp bỏ tiền xây dựng và quản lý.

Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6 m và có 6 chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. Trên đỉnh tháp có đính một cây thánh giá cao 3,50 m, ngang 2 m, nặng 600 kg. Tổng thể chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60,50 m.

Nhà thờ Đức Bà xưa (chưa có tháp chuông) và nay (đã có tháp chuông)

Nhà thờ Đức Bà xưa (chưa có tháp chuông) và nay (đã có tháp chuông)

Trên vườn hoa trước nhà thờ, năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Bá Đa Lộc hoặc Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp “bảo hộ”, “khai hóa” cho Việt Nam. Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình Giám mục Adran với phẩm phục giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh. Tượng làm bằng đồng, được đúc tại Pháp, giới bình dân thời đó thường gọi là tượng “hai hình” để phân biệt với tượng “một hình”, là bức tượng của Đô đốc Hải quân Pháp Genouilly ở phía công trường Mê Linh (nay là cuối đường Hai Bà Trưng, gần bờ sông Sài Gòn). Năm 1945, tượng này bị phá bỏ, nhưng cái bệ đài bằng đá hoa cương đỏ thì vẫn còn tồn tại ở đó mà không có bất cứ một bức tượng nào đặt lên trên.

Tượng đồng Giám mục Bá Đa Lộc dẫn hoàng tử Cảnh

Tượng đồng Giám mục Bá Đa Lộc dẫn hoàng tử Cảnh

Năm 1958, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên (sau làm Giám mục giáo phận Phú Cường, giờ đã qua đời), cai quản Giáo xứ Sài Gòn thời ấy, đã đặt tạc một tượng Đức Mẹ Hòa Bình bằng loại đá cẩm thạch trắng Carrara của Ý. Tượng được tạc tại Pietrasanta cách Roma khoảng 500 km. Khi tượng hoàn tất thì được đưa xuống tàu Oyanox vào ngày 8 tháng 1 năm 1959 từ hải cảng Gênes chở tượng qua Việt Nam và tới Sài Gòn ngày 15 tháng 2 năm 1959. Sau đó, công ty Société d’Entreprises đã dựng tượng Đức Mẹ lên bệ đá vốn còn để trống kể từ năm 1945 trước nhà thờ. Tự tay linh mục viết câu kinh cầu nguyện “Xin Đức Mẹ cho Việt Nam được hòa bình” rồi đọc trước đông đảo quan khách có mặt hôm ấy. Ngày hôm sau, Hồng y Aganianian từ Roma qua Sài Gòn để chủ toạ lễ bế mạc Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc, đã làm phép bức tượng này vào buổi chiều ngày 17 tháng 2 năm 1959. Từ sự kiện này mà từ đó nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Đức Bà.

Ngày 5 tháng 12 năm 1959, Tòa Thánh đã cho phép làm lễ “xức dầu”, tôn phong Nhà thờ Chính tòa Sài Gòn lên hàng tiểu Vương cung thánh đường (basilique). Từ đó, tên gọi chính thức của thánh đường là Vương cung thánh đường Đức Bà Sài Gòn.

Năm 1960, Tòa Thánh thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam với ba tòa Tổng Giám mục tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Nhà thờ trở thành nhà thờ chinh tòa của vị Tổng giám mục Sài Gòn cho đến ngày nay.

3. Đặc điểm:

Tên chính: Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội.

Tôn giáo: Công giáo Rôma

Chức năng : thuôc Giáo xứ chính tòa

Kiến trúc Thiết kế: J. Bourad

Khánh thành: 11 tháng 4, 1880

Phong cách: Kiến trúc Roman và Gôtich

Trong quá trình xây dựng, toàn bộ vật liệu xây dựng từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. Mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Marseille để trần, không tô trát, (đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi), không bám bụi rêu. Một số ngói vỡ trong nhà thờ có in hàng chữ Guichard Carvin, Marseille St André France (có lẽ là nơi sản xuất loại ngói này), mảnh ngói khác lại có hàng chữ Wang-Tai Saigon. Có thể đây là mảnh ngói được sản xuất sau tại Sài Gòn dùng để thay thế những mảnh ngói vỡ trong thời gian Thế chiến thứ hai do những cuộc không kích của quân Đồng Minh. Toàn bộ thánh đường có 56 ô cửa kính màu do hãng Lorin của tỉnh Chartres (Pháp) sản xuất.

Móng của thánh đường được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn – Gia Định lúc ấy và bây giờ.

Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người.

Nội thất thánh đường có hai hàng cột chính hình chữ nhật, mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang và kế đó là nhiều nhà nguyện nhỏ với những bàn thờ nhỏ (hơn 20 bàn thờ) cùng các bệ thờ và tượng thánh nhỏ làm bằng đá trắng khá tinh xảo. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình sáu vị thiên thần khắc thẳng vào khối đá đỡ lấy mặt bàn thờ, bệ chia làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích. Trên tường được trang trí nổi bật 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh Kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Tất cả các đường nét, gờ chỉ, hoa văn đều tuân thủ theo thức Roman và Gôtich, tôn nghiêm và trang nhã. Tuy nhiên, trong số 56 cửa kính này hiện chỉ còn bốn cửa là nguyên vẹn như xưa, còn các cửa kính màu khác đều đã được làm lại vào khoảng những năm 1949 để thay thế các cửa kính màu nguyên thủy của nhà thờ đã bị bể gần hết trong thế chiến thứ 2. Trên trán tường của cửa chính nhà thờ có hàng chữ Latinh:

DEO OPTIMO MAXIMO BEATIEQUE MARIA VIRGIN IMMACULATOE
Nghĩa là: Thiên Chúa tối cao đã ban cho Đức Trinh Nữ Maria được ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Còn trên trán tường của cửa vào bên phải có những hàng chữ bằng tiếng Hoa, thật ra đó là hai câu đối: “Nhà thờ Thiên Chúa đầy ân đức – Thánh mẫu vô nhiễm nguyên tội“. và hàng chữ nói tới năm khánh thành nhà thờ 1880. Nội thất thánh đường ban đêm được chiếu sáng bằng điện (không dùng đèn cầy) ngay từ khi khánh thành. Vào ban ngày, với thiết kế phối sáng tuyệt hảo, hài hòa với nội thất tạo nên trong nội thất thánh đường một ánh sáng êm dịu, tạo ra một cảm giác an lành và thánh thiện. Ngay phía trên cao phía cửa chính là “gác đàn” với cây đàn organ ống, một trong hai cây đàn cổ nhất Việt Nam hiện nay. Đàn này được các chuyên gia nước ngoài làm bằng tay, thiết kế riêng, để khi đàn âm thanh đủ cho cả nhà thờ nghe, không nhỏ mà cũng không ồn. Hiện nay, cây đàn này đã hoàn toàn hỏng do bị mối ăn phần gỗ bàn phím điều khiển bằng tay.

Lúc đầu nhà thờ không có tháp chuông. Đến năm 1895 thì được xây thêm 2 tháp chuông lớn. Có tất cả 6 chuông lớn (sol, la, si, đô, rê, mi), gồm sáu âm, nặng tổng cộng 28,85 tấn, đặt dưới hai lầu chuông. Bộ chuông này được chế tạo tại Pháp và mang qua Sài Gòn năm 1879. Trên mặt mỗi quả chuông đều có các họa tiết rất tinh xảo.

Ba quả chuông to nhất là chuông si , chuông la và đặc biệt là chuông sol là một trong những quả chuông lớn nhất thế giới. Chuông này chỉ ngân lên mỗi năm một lần vào đêm Giao thừa Âm lịch.

Các chuông đều được điều khiển bằng điện từ bên dưới. Riêng ba chiếc chuông lớn trước khi đánh đều được khởi động bằng cách đạp (vì quá nặng) cho lắc trước khi bật công tắc điện. Vào ngày thường, thánh đường chỉ cho đổ một chuông mi vào lúc 5 giờ sáng và đổ chuông re vào lúc 16g15. Vào ngày lễ và chủ nhật, nhà thờ thường cho đổ ba chuông theo hợp âm Mi, Re và Do ( đúng ra là hợp âm ba chuông Mi, Do và Sol, nhưng vì chuông Sol qua nặng nên thay thế bằng chuông Do). Vào đêm Giao thừa thì mới đổ cả 6 chuông. Tiếng chuông ngân xa tới 10 km theo đường chim bay.

Bộ máy đồng hồ trước vòm mái cách mặt đất chừng 15 m, giữa hai tháp chuông được chế tạo tại Thụy Sĩ năm 1887, hiệu R.A, cao khoảng 2,5 m, dài khoảng 3 m và ngang độ hơn 1 m, nặng hơn 1 tấn, đặt nằm trên bệ gạch. Dù thô sơ, cũ kỹ nhưng hoạt động khá chính xác. Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Mỗi tuần phải lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe. Đồng hồ còn có hệ thống bao giờ bằng búa đánh vô các chuông của nhà thờ, tuy nhiên đã không còn hoạt động do dây cót quá cũ.

Mặt trước thánh đường là một công viên với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá. Trung tâm của công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa bình (hay Nữ vương Hòa bình). Tượng do nhà điêu khắc G. Ciocchetti thực hiện năm 1959. Tên của tác giả được khắc ở trên tà áo dưới chân, phía bên trái của bức tượng. Bức tượng cao 4,6 m, nặng 8 tấn, bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời như đang cầu nguyện cho Việt Nam và cho thế giới được hoà bình. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn (mà hiện nay, đầu con rắn đã bị bể mất cái hàm trên). Trên bệ đá, phía trước bức tượng, người ta có gắn một tấm bảng đồng với hàng chữ Latinh:

REGINA PACIS – ORA PRO NOBIS – XVII. II. MCMLIX

Nghĩa là: NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH – CẦU CHO CHÚNG TÔI – 17.02.1959

Phía dưới bệ đá, người ta đã khoét một cái hốc chỗ giáp với chân tượng Đức Mẹ, trong đó có một chiếc hộp bằng bạc, chứa những lời kinh cầu nguyện cho hoà bình của Việt Nam và thế giới. Những lời cầu nguyện đó được viết lên trên những lá mỏng bằng những chất liệu khác nhau như bằng vàng, bạc, thiếc, nhôm, giấy, da và đồng, được gởi tới từ nhiều miền của Việt Nam, kể cả từ một số vùng ngoài miền Bắc.

Tượng Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời, chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn

Tượng Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời, chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn

(Sưu tầm – Tổng hợp)

Categories: Di tích tôn giáo | Tags: | Leave a comment

Blog at WordPress.com.