All posts by Saigonist

Cà phê Thái Chi

Cà phê Thái Chi ngày nay
Cà phê Thái Chi ngày nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Cà phê Thái Chi ở khúc đầu đường Nguyễn Phi Khanh, phía sau rạp chiếu bóng Casino Ðakao (sau 1975 đổi thành rạp Cầu Bông và hiện nay không còn là rạp chiếu bóng nữa – HNVĐ). Quán cà phê Thái Chi là một căn nhà phố nhỏ bé, bàn ghế thấp trên nền nhà cao, tinh tươm sạch sẽ. Quán không biển hiệu, mọi người gọi tên quán bằng tên bà chủ quán: bà Thái Chi.

Những năm 1960-1970, tới uống cà phê Thái Chi đa số là khách quen: những công chức ngành phát thanh truyền hình, sĩ quan quân đội, văn nghệ sĩ … và đa số là người miền Bắc (dân Hà Nội cũ), gặp nhau mỗi sáng, uống một tách cà phê nóng để nói đủ thứ chuyện trên đời. Bà chủ quán Thái Chi, không rõ bao nhiêu tuổi (có ai hỏi tuổi phụ nữ bao giờ), đối đáp với bất cứ người khách nào, dù khách trọng tuổi, cũng xưng là “chị”.

Thời gian đầu chúng tôi tới quán cà phê Thái Chi, thường nghe bà chủ quán nhắc nhở khách uống cà phê đừng tựa đầu sát vách tường. Thì ra, bà Thái Chi không chịu được vách tường quán cà phê của bà hoen ố bởi những người khách chải tóc bằng dầu bóng.

Thời gian sau, không nghe bà chủ quán nhắc nhở khách như vậy nữa: ở vách tường, đã được dán lớp simili như dải ruy-băng chỗ khách thường tựa đầu. Bà pha chế cà phê phía sau một bức vách ngăn, mang ra cho khách. Ai nóng vội, loay hoay với cái phin để làm sao cho cà phê mau nhỏ giọt xuống cái tách, bà can thiệp liền. Khách uống cà phê Thái Chi mặc nhiên phải hiểu rằng, chỉ bắt đầu uống cà phê khi chính bàn tay bà chủ quán đã nhấc cái phin ra khỏi tách. Chúng tôi nhiều lần nghe bà cằn nhằn những người khách, dù lớn tuổi hay nhỏ tuổi hơn bà, khi những người khách ấy “vi phạm luật lệ” uống cà phê tại quán Thái Chi.

Cà phê Thái Chi không lúc nào vắng khách, có lẽ chính vì cái “tinh thần trách nhiệm” của chủ quán trước tách cà phê dành cho khách uống và cái tinh tươm sạch sẽ của quán. Chúng tôi và nhạc sĩ Anh Việt Thu, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, nhà thơ Phạm Lê Phan (cả ba người đều đã qua đời), sáng nào trước khi tới cơ quan làm việc (Phòng Văn Nghệ thuộc Cục Tâm Lý Chiến) đều ghé uống tách cà phê ở quán bà Thái Chi khó tính. Những ngày kỷ niệm lễ lạt gì đó, hầu như cả Phòng Văn Nghệ chúng tôi gặp nhau tại quán cà phê Thái Chi, trong đó gồm cả đại úy phó phòng và thiếu tá trưởng phòng, nhà thơ Tô Thùy Yên.

Bà Thái Chi đã mất trên 30 năm. Sau ngày 30 tháng 4, mấy người cháu của bà tiếp tục mở cửa quán. Quán vẫn giữ cách bày trí như xưa, vì bên trong nhà chỉ đặt được 4-5 cái bàn nhỏ nên giờ phải bày thêm ra cả vỉa hè. Tuy nhiên quán đã không còn không khí cũ nữa, nhất là không còn bà Thái Chi nhấc từng cái phin cà phê ra khỏi tách để khách uống. Và cũng không ai còn nhắc, nhớ: đây là quán cà phê của “bà chị” Thái Chi khó tính – từng được xem là một quán cà phê cá tính, đáng nhớ của Sài Gòn.

Tổng hợp từ 2 bài trên báo SGGPNgười Việt của tác giả Nguyễn Đạt

Thông tin thêm của HNVĐ: quán cà phê Thái Chi hiện nay nằm ở số 5 đường Nguyễn Phi Khanh, phường Đa Kao, quận 1. Quán chỉ bán cà phê vào buổi sáng. Buổi chiều tối là quán ốc cũng do những người cháu của bà Thái Chi đứng ra bán.

Trường Trung học Võ Trường Toản

Cổng trường Võ Trường Toản

Vài nét về trường trung học

Ai cũng biết cụ Võ Trường Toản là một cao sĩ miền Nam, là một ẩn nho không màng danh lợi, an bần lạc đạo và vui cùng việc dạy dỗ học trò trong số đó có Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh … nhưng lai lịch của trường Võ Trường Toản thì ít ai biết đến.

Khách nhàn du từ Văn Miếu trong Thảo Cầm Viên nhìn ra đường Nguyễn Bỉnh Khiêm hẳn thấy một dãy nhà ba tầng cao ngạo nghễ vươn lên khỏi đám cây xanh: đó là trường Trung học Võ Trường Toản.

Cách đây mười sáu năm, trường ra đời trong một trường hợp khá đặc biệt.

Địa điểm của trường Võ Trường Toản ngày nay, trước kia là của trường Sư phạm Việt Nam 1955, theo một quyết định của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, trường Sư phạm Nam Việt sẽ được bãi bỏ lần lần và cũng nhờ thế, trường Võ Trường Toản có điều kiện thuận tiện để thành lập, thế chỗ lần cho những lớp của trường Sư phạm Nam Việt mỗi năm mỗi bớt đi.

Trong niên khóa 1955-1956, trường Võ Trường Toản có ba lớp đệ thất. Học sinh không do nhà trường trực tiếp tuyển nhận mà là những thí sinh đậu kế tiếp trong kỳ thi tuyển vào Đệ thất trường Pétrus Ký khóa tháng 7 năm 1955.

Trường Võ Trường Toản được chính thức hóa do Nghị định số 62 NĐ/GD ngày 7-2-1956 của Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Tuy thế nhưng trong niên học 1955-1956 trường Võ Trường Toản vẫn còn phụ thuộc vào trường Sư phạm Nam Việt. Kể từ sau ngày 13-9-1956, trường Sư phạm Nam Việt được dời về trường Quốc gia Sư Phạm thì trường Võ Trường Toản mới hoạt động riêng biệt dưới sự điều khiển của một vị Hiệu trưởng và tuy là một trường Trung học, trường vẫn phải phụ trách thêm một Ban tiểu học gồm 5 lớp với 199 học sinh.

Trong mấy năm đầu, nhà trường đã gặp nhiều khó khăn: trường sở tương đối rộng rãi nhưng lại thiếu bàn ghế, thiếu dụng cụ, vật liệu, thiếu nhân viên văn phòng, giám thị (kể cả hiệu trưởng chỉ có 4 người trong niên khóa 1956-1957)

Nhưng sau đó trường đã phát triển rất nhanh về số lượng nhân viên và học sinh. Kể từ tháng 9 năm 1960, nhà trường được Bộ Quốc Gia Giáo Dục  mở 2 lớp Đệ nhất và năm 1961 được công nhận là một trường Trung học Đệ nhị cấp tại thủ đô. Hiện nay trường sở đã được mở rộng đến mức tối đa, gồm có 20 phòng học, một phòng thí nghiệm (thiết lập năm 1959) với nhiều dụng cụ tối tân để làm nơi học tập khoa học cho học sinh. Năm 1970, với sự giúp đỡ của Hội Phụ huynh học sinh, một thư viện đã được thành hình để giúp học sinh mở rộng thêm kiến thức. Cũng trong năm 1970 này, một câu lạc bộ, một quầy hàng Sinh tiếp vụ và một phòng hớt tóc giá hạ được thiết lập ngay trong trường nhằm giúp học sinh có nơi ăn uống, hớt tóc và mua sắm mọi vật dụng cần thiết với giá rẻ. Năm 1971, trường đã xây thêm phòng Sinh hoạt học đường để giúp các em học sinh có nơi hội họp, sinh hoạt văn nghệ, báo chí …

Số lớp học, số giáo sư và nhân viên cũng như học sinh tăng rất nhanh. Để có 1 ý niệm rõ rệt về sự phát triển vượt bậc của trường Võ Trường Toản, ta thử so sánh số lớp, số giáo sư và học sinh trong vòng 15 năm nay.

Cơ sở và tổ chức

[slideshow]

Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn

Trường Trung Học Phổ Thông Lê Quý Đôn là một trường trung học công lập xưa nhất Sài Gòn, được thành lập năm 1874, với tên gọi ban đầu Collège Chasseloup-Laubat.

Trường Collège Chasseloup-Laubat năm 1905. Ảnh: Internet
Trường Collège Chasseloup-Laubat năm 1905. Ảnh: Internet

Buổi đầu thành lập

Sau khi chiếm được toàn cõi Nam Kỳ, ngày 14 tháng 1 năm 1874, Thống đốc Nam Kỳ, Chuẩn Đô đốc (Contre-amiral) Pháp Jules François Emile Krantz (1821-1914) đã ký nghị định thành lập một ngôi trường trung học tại Sài Gòn nhằm phục vụ nhu cầu đào tạo con em những thực dân người Pháp tại Sài Gòn. Chương trình giảng dạy theo chính quốc, dạy từ tiểu học đến tú tài (chương trình Pháp). Trường sở được khởi công xây dựng ngay vào năm 1874 và hoàn tất vào năm 1877.

Lúc đầu trường có tên Collège Indigène, có nghĩa là trung học bản xứ. Bấy giờ trường chưa có tên chính thức nên gọi bằng tên này, còn người dân gọi là trường Khải Tường vì nằm trong khu đất của chùa Khải Tường cũ. Không lâu sau, cái tên Collège Chasseloup-Laubat được dùng thay thế tên cũ là vì tên này đặt theo tên của ông Francois Marquis de Chasseloup-Laubat (1754-1833), là Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại (Bộ Thuộc địa) thời điểm ấy. Mặc dù là một trường dành cho người có quốc tịch Pháp nhưng trường còn có tên là Bổn Quốc Sài Gòn, khác với các trường bản xứ khác.

Trường dành cho học sinh người Pháp và bản xứ có quốc tịch Pháp Ảnh: Internet
Trường dành cho học sinh người Pháp và bản xứ có quốc tịch Pháp
Ảnh: Internet

Cũng như mục đích thành lập trường là để phục vụ nhu cầu đào tạo con em của thực dân Pháp, thời gian đầu đi vào hoạt động, trường chỉ nhận học sinh người Pháp. Việc mở rộng nhận học sinh người Việt vào đầu thế kỷ 20. Nói là học sinh Việt nhưng phải có quốc tịch Pháp mới được vào học. Lúc bấy giờ trường cũng được chia làm hai khu riêng biệt nhưng đều học chung chương trình Pháp và thi tú tài Pháp: khu dành cho học sinh Pháp (còn gọi là Quartier Européen) và khu dành cho học trò Việt là Quartier indigène (khu bản xứ). Học sinh Việt được học tiếng Việt.

Buổi sinh hoạt của học sinh trong sân trường. Ảnh: Internet
Buổi sinh hoạt của học sinh trong sân trường. Ảnh: Internet

Hoạt động yêu nước

Vào năm 1926, những học sinh người Việt đã viết lên bảng 4 chữ A.B.L.F, viết tắt câu “A bas les Français” (nghĩa là “Đả đảo thực dân Pháp”) trong một lần bãi khoá để tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh.

Phân hiệu Collège de Cochinchine

Ngày 28 tháng 11 năm 1927, Toàn quyền Đông Dương G. Gal ra một nghị định thiết lập tại Chợ Quán một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat dành cho học sinh người bản xứ lấy tên là Collège de Cochinchine. Phân hiệu này được đặt dưới sự điều hành của Ban Giám đốc Trường Chasseloup Laubat và môt giáo sư phụ trách tổng giám thị của phân hiệu.

Ngày 11 tháng 8 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương tạm quyền René Robert ký nghị định số 3116 gồm 6 điều, thành lập tại Chợ Quán, kể từ kỳ tựu trường 1928-1929 một trường Cao đẳng Tiểu học Pháp bản xứ, chuyển giao phân hiệu tạm thời với trên 200 học sinh của Collège Chasseloup Laubat nói trên vào trường này, có sát nhập một hệ Trung học Đệ nhị cấp bản xứ (Lycée) để thành lập một trường mới, về sau có tên là Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký, hay trường Petrus Ký.

Thời VNCH

Sau năm 1954, với dụng ý tránh gợi nhớ thời thuộc địa, trường được đổi tên là trường Jean Jacques Rousseau (tên một nhà trí thức Pháp trong phong trào “Ánh Sáng” thế kỷ XVIII) dạy chủ yếu là học sinh người Việt, nhưng vẫn do người Pháp quản lý. Đến 1967, trường được trả lại cho Việt Nam và trở thành Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Sau 1975, trường Lê Quý Đôn vẫn được giữ tên như cũ.

Kiến trúc

Khuôn viên
1. Cổng chính vào sân trường – 2. Lối đi bộ – 3. Lối đi cho xe đạp và xe máy – 4. Văn phòng hiệu trưởng – 5. Sân các lớp tiểu học
Hình ảnh được chụp lại từ Google Earth và chú thích theo Georges Nguyen Cao Duc, thành viên Hội Ái hữu cựu học sinh trường Lê Quý Đôn) tại Pháp.

Trải qua hơn một thế kỷ, kiến trúc ban đầu của ngôi trường vẫn còn gân như nguyên vẹn, gồm bốn dãy nhà cao hai tầng ghép lại có hình chữ “khẩu”. Với lối kiến trúc mang đậm chất Tây Âu, trường sở được xem như một kiến trúc cổ có lịch sử văn hóa lâu đời, vẫn giữ gìn được nét truyền thống cổ kính mặc dù đã được trùng tu, sửa chữa. Dựa trên nền kiến trúc cổ, hiện tại trường sở đã xây thêm một số công trình phụ gồm nhà luyện tập thể thao và 10 phòng học kiểu mới. Tính truyền thống và hiện đại được nhà trường chú ý ngay trong khâu thiết kế và trang trí, vì thế ngôi trường Lê Quý Đôn vẫn mang đậm nét cổ kính.

Một số giáo viên và học sinh tiêu biểu thời Pháp

Hình cựu học sinh khoa Triết năm 1954. Ảnh do bác Nguyen Huu Khanh cung cấp. Nguồn: diendanlequydon.com
Hình cựu học sinh khoa Triết năm 1954.
Ảnh do bác Nguyen Huu Khanh cung cấp.
Nguồn: diendanlequydon.com

Nhà văn hóa, học giả Vương Hồng Sển đã từng học ở ngôi trường danh giá Collège Chasseloup-Laubat. Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire (cao đẳng tiểu học), ông làm chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi trong 20 năm (từ 1923 đến 1943), trong đó có Dinh Thống đốc Nam Kỳ. Nhà cách mạng ở đầu thế kỷ 20 của Việt Nam Nguyễn An Ninh trước theo học ở Trường Taberd, Collège Mỹ Tho sau đó học tại Trường Collège Chasseloup-Laubat. Nhờ tốt nghiệp trung học với bằng ưu nên ông ra Hà Nội học Cao đẳng Y Dược và được miễn chuẩn bằng tú tài.

Trường Collège Chasseloup-Laubat còn là nơi đào tạo một người từng tham gia đánh phát xít Đức ở châu Âu trong đại chiến thế giới thứ nhất (1914-1918). Đó là ông Cao Triều Phát (1889-1956). Thuở nhỏ ông Phát học tiểu học tại quê nhà Bạc Liêu, sau lên Sài Gòn theo học tại trường này. Nhà trí thức yêu nước ở miền Nam nửa đầu thế kỷ 20 và đồng thời là một kỹ sư người bản xứ đầu tiên của Việt Nam và toàn cõi Đông Dương. Đó là ông Lưu Văn Lang (1880-1969) cũng từng học ở ngôi trường lâu đời nhất Sài Gòn. Ông Lang thi đậu tú tài 2 của Pháp với điểm số xuất sắc và nhận học bổng học tại Trường École Centrale de Paris (trường bá nghệ trung ương Pháp lúc bấy giờ). Năm 1904, ông tốt nghiệp với tấm bằng ưu, xếp hạng thứ 8/250 sinh viên và trở thành kỹ sư đầu tiên ở Đông Dương là người bản xứ.

Ngoài ra còn có Trịnh Công Sơn (nhạc sĩ tân nhạc nổi tiếng), Trần Văn Giàu (nhà hoạt động cách mạng, nhà khoa học, nhà nghiên cứu lịch sử, triết học và là nhà giáo Việt Nam), Dương Văn Minh (Tổng Thống cuối cùng của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa),.v..v..

(Tổng hợp)

Trường nữ trung học Gia Long

Trường Nữ trung học Gia Long còn được gọi là  trường nữ sinh Áo Tím nay là trường trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai  tọa lạc tại 275, Điện Biên Phủ, Q3, là một trường trung học phổ thông công lập ở Sài Gòn. Được thành lập từ năm 1913, cho đến nay trường Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những trường phổ thông lâu đời nhất của nền giáo dục Việt Nam.

Trường Áo Tím - Gia Long - Minh Khai
Trường Áo Tím – Gia Long – Minh Khai

Thời Pháp thuộc

Khoảng đầu thế kỷ 20, nền giáo dục ở Việt Nam còn mang tính chất Nho giáo nên ít chú trọng đến giáo dục nữ giới. Xuất phát từ ý định tha thiết muốn xây dựng một nền giáo dục cho nữ giới, năm 1908, nghị viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ Lê Văn Trung cùng vợ của Tổng Đốc Phương và một số nhân sĩ trí thức đã đề nghị chính quyền thực dân Pháp thành lập một ngôi trường Sơ Học Cao Đẳng (bậc tiểu học) dành cho nữ.

Năm 1909, đơn đã được Hội Đồng Quản Hạt chấp thuận nhưng chưa có kinh phí để thực hiện. Mãi đến ngày 6 tháng 11 năm 1913, lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng trường Nữ Học Đường Sài Gòn mới được cử hành. Trường được xây dựng trên một khu đất rộng ở đường Legrand de la Liraye, sau đổi tên là đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ), bên phải là đường Bà Huyện Thanh Quan, bên trái là Đoàn Thị Điểm (Trương Định ngày nay), phía sau là Ngô Thời Nhiệm, thuộc thành phố Sài Gòn.

Hai năm sau, ngày 19 tháng 10 năm 1915, Toàn Quyền Ernest Nestor Roume và Thống Đốc Courbell làm khánh thành. Trong buổi lễ trọng thể này, ban tổ chức đã chọn màu tím làm màu áo đồng phục cho nữ sinh, tượng trưng đức tính đoan trang, kín đáo và khiêm nhường của người thiếu nữ Việt Nam. Từ đó, trường thường được gọi là “Trường Áo Tím”.

Khóa đầu tiên trường tuyển 42 nữ sinh, Các học sinh đầu tiên của Trường thuộc những gia đình sống ở Sài Gòn và các vùng phụ cận. Dần dần, có nhiều học sinh từ các tỉnh lên học nên Trường bắt đầu có nội trú.

Trường đào tạo thành nhiều lớp: Đồng ấu (Enfantin), Cao đẳng (Supérieur). Năm cuối Sơ học (CEP), học sinh phải thi lấy Chứng chỉ Căn bản Giáo dục sau khi tốt nghiệp những lớp cao cấp.

Trong những năm 1917 – 1922, vì số lượng học sinh gia tăng, trường xây dựng thêm một tòa nhà thứ hai song song với tòa nhà cũ.. Các phòng trên lầu được dùng làm phòng ngủ nội trú cho các học sinh xa nhà. Cách một sân cỏ, là một dãy nhà sau, thấp, sát với vách tường rào. Ở đó có bệnh thất, các lớp nữ công gia chánh, phòng giặt và xếp quần áo học sinh nội trú, cuối cùng là nhà bếp.

COLLÈGE DES JEUNES FILLES INDIGÈNES (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ)
Collège Des Jeunes Filles Indegènes (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ)

Tháng 9 năm 1922, Toàn Quyền Albert Sarraut cắt băng khánh thành Ban Trung Học Nữ Học Đường. Một phiến đá bằng cẩm thạch khắc chữ Collège Des Jeunes Filles Indigènes (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ) được dựng lên trước cổng trường, tuy nhiên trường vẫn được biết đến nhiều hơn với cái tên Trường Nữ Sinh Áo Tím.

Bà Lagrange, vợ một ông Chánh Tham Biện người Pháp, được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng ban trung học. Trường mở từ lớp đệ thất niên (lớp 6 bây giờ) đến lớp đệ tứ niên (lớp 9 bây giờ), chỉ thu nhận nữ sinh có bằng Sơ Học và kỳ thi tuyển vào trường.

Lúc đầu, các nữ sinh đậu vào lớp đệ nhất (lớp 12 bây giờ) thì học ban Sư Phạm, sau bốn năm ra làm giáo viên. Hoặc theo ban Phổ Thông. Cả hai ban đều học một chương trình để tốt nghiệp lấy bằng Thành Chung (DEPSI).

Từ lớp Dự Bị (Préparatoire) tức là lớp Hai bây giờ, học sinh đã bắt đầu học Pháp Văn. Ban Trung Học hoàn toàn được giảng dạy bằng tiếng Pháp. Mỗi tuần chỉ có hai giờ Việt Ngữ. Trong trường học sinh bị bắt buộc phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Mỗi lần bị bắt gặp nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt, phải chịu phạt một hay hai xu. Nhưng hình phạt không mấy khi thi hành.

Tuy trường khi này do người Pháp quản lý nhưng phong trào đấu tranh chống thực dân trong học sinh vẫn âm ỉ, ít nhất đã hai lần nữ sinh trường xuống đường. Lần thứ 1 vào đầu năm 1920,  khi một giáo viên người Pháp yêu cầu học sinh người Việt phải nhường ghế ở hàng đầu cho học sinh người Pháp ngồi. Lần thứ 2 vào năm 1926, nhân đám tang cụ Phan Chu Trinh, một phong trào bãi khóa lan rộng từ Nam chí Bắc để tỏ lòng thương tiếc nhà cách mạng lão thành. Học sinh trường Áo Tím nhiệt liệt hưởng ứng đưa đến kết quả một vài nữ sinh bị bắt và phải đuổi khỏi trường.

Năm 1940, quân đội Nhật chiếm đóng trường trong lúc học sinh nghỉ hè. Cũng trong năm này, trường đổi tên thành Collège Gia Long (Cao đẳng tiểu học Gia Long), rồi Lycée Gia Long (Trường trung học đệ nhị cấp Gia Long).

Năm 1941:  tất cả thầy trò đều phải tản cư về trường tiểu học Đồ Chiểu (Tân Định). Ngay khi Nhật trao trả lại trường thì quân đội Anh tiếp thu làm trại lính, kéo dài trong 6 năm.

Năm 1947: khi được người Anh trao trả, trường bị hư hại nhiều đến nỗi vị hiệu trưởng lâm thời là cô Mailleret phải vận động mạnh thường quân quyên góp tài chính để lo việc tu sửa.

Năm 1949: trường lại được mở rộng: một tòa nhà hai tầng được xây mới ở đường Bà Huyện Thanh Quan để đáp ứng số lượng học sinh ngày càng tăng. Cũng trong năm 1949, nữ sinh trường cùng với nam sinh trường Trương Vĩnh Ký tổ chức bãi khóa kỷ niệm ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa dẫn đến việc trường bị nhà cầm quyền cho đóng cửa.

Dãy Bà Huyện Thanh Quan
Dãy Bà Huyện Thanh Quan

Thời Quốc Gia Việt Nam

Năm 1950, sau một cuộc đấu tranh dài hơi có sự góp sức của đông đảo học sinh các trường khác ở khắp vùng Sài Gòn – Gia Định (trong số ấy có nhiều học sinh đã hy sinh, như Trần Văn Ơn của trường Trương Vĩnh Ký), trường được mở cửa lại và đánh dấu một sự kiện lớn: cô Nguyễn Thị Châu, cựu nữ sinh Áo Tím, là vị giáo sư Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm vào chức hiệu trưởng; đó là một niên học đáng ghi nhớ trong lịch sử của trường (Cô Châu qua đời tại Pháp năm 1996)

Đến 1952, chương trình giáo dục Việt dần thay thế chương trình giáo dục Pháp; nữ sinh phải học cả hai ngoại ngữ là Anh – Pháp song song. Kỳ thi tuyển vào trường rất khó và được đem so sánh với kỳ thi vào trường dành cho nam là Lycée Petrus Ký với số học sinh tham dự đến từ khắp nơi trong miền Nam: Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, Tân An…

Năm 1953, đồng phục áo dài tím được thay thế bằng áo dài trắng với phù hiệu bông Mai Vàng. Sau cùng là huy hiệu với tên trường Gia Long được thêu trên vải.

Thời Việt Nam Cộng Hòa

1954, chính quyền Việt Nam ra lệnh dùng tiếng Việt trong mọi cơ sở của người Việt và đương nhiên cả trong ngành giáo dục. Trong hệ thống mới, tiếng Anh, tiếng Pháp trở thành ngoại ngữ. Tên trường được gọi chính thức là Nữ trung học Gia Long.

Trường Nữ trung học Gia Long thời VNCH
Trường Nữ trung học Gia Long thời VNCH

Năm 1964 trường bỏ nội trú. Những dãy lầu từng được dùng làm nơi cư ngụ cho các học sinh nội trú được sửa thành lớp học. Buổi sáng có tất cả năm mươi lăm lớp học từ đệ Tứ đến đệ Nhất (lớp 9 đến lớp 12). Buổi chiều có tất cả bốn mươi lăm lớp từ đệ Thất đến đệ Ngũ (lớp 6 đến lớp 8). Tổng công sáng chiều trường có tất cả một trăm lớp học với tổng cộng 3000 học sinh. Trên bước đường phát triển, trường xây thêm: Thư Viện (1965), phòng Thí Nghiệm Lý Hóa (1966).

Năm 1967, mở rộng Giảng Đường nằm bên cạnh thư viện. Xây dựng sân khấu với mặt tiền chiếm hết chiều rộng của Giảng đường, đồng thời trang bị thêm đàn dương cầm. Cùng thời gian này, trường trang bị thêm Phòng nhiếp ảnh (nhưng chỉ hoạt động thời gian ngắn). Năm 1968, trường xây thêm hồ bơi đối diện thư viện.

Vào khoảng thập niên bảy mươi, kỳ thi tuyển vào đệ thất (lớp 6 ngày nay) mỗi năm có chừng bảy trăm nữ sinh trúng tuyển trong số hơn mười ngàn thí sinh. Một cuộc tuyển sinh vào hệ trung học trường vào khoảng năm 1971 được ghi nhận như sau: có tổng cộng 8000 học sinh ghi danh và thi tuyển nhưng chỉ có 819 đậu. Trường có độ hai trăm giáo sư và năm ngàn nữ sinh.

Thời gian này cũng là thời gian nữ sinh trường tham gia rất mạnh vào các phong trào phản chiến chống chiến tranh Việt Nam, trong đó một số học sinh đã tham gia trực tiếp vào Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, chính các phong trào như trên ở nữ sinh trường đã khiến cho nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng gọi nhiều thế hệ nữ sinh là: Áo Tím trên các nẻo đường đất nước.

Từ năm 1975 đến nay

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trường được chính quyền mới đổi tên thành Trường Phổ thông cấp 2-3 Nguyễn Thị Minh Khai.

Niên khóa 1978-1979: Trường giải thể cấp 2, thu nhận nữ sinh lẫn nam sinh, đổi tên thành Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai tới bây giờ.

Năm 2003, trường được đưa vào vào danh mục của 55 công trình đề nghị điều tra xác lập di tích kiến trúc cổ của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay, cách TP.HCM khoảng 20 cây số có một khu làng đặc biệt, được cất lên từ năm 2000. Đặc biệt vì khu làng mang tên Làng Gia Long (tên cũ của trường PTTH Nguyễn Thị Minh Khai) và bây giờ, là nơi các thế hệ thầy, cô học trò trường Áo Tím – Gia Long – Minh Khai có thể về đây sum họp khi lớn tuổi.

Trường Nguyễn Thị Minh Khai
Trường Nguyễn Thị Minh Khai

Danh Sách Các Vị Cựu Hiệu Trưởng  (từ lúc sáng lập cho tới năm 1975)

– Cô Lagrange: 1914-1920
– Cô Lorenzi: 1920-1922
– Cô Pascalini: 1922-1926
– Cô Saint Marty: 1926-1942
– Cô Fourgeront: 1942-1945
– Cô Malleret: 1945-1947
– Cô Dubois: 1947-1950
– Cô Nguyễn Thị Châu: 1950-1952
– Cô Huỳnh Hữu Hội: 1952-1963
– Cô Nguyễn Thu Ba: 1963-1964
– Cô Trần Thị Khuê: 1964-1965
– Cô Trần Thị Tỵ: 1965-1969
– Cô Phạm Văn Tất: 1969-1975

Hòn Ngọc Viễn Đông tổng hợp

Nguồn:

  • Cô giám học Nguyễn Ngọc Anh
  • Hội Ái Hữu Gia Long Âu Châu
  • Wikipedia

Trường Nữ Trung học Trưng Vương

Trường Nữ Trung học Trưng Vương (Sài Gòn) – Số 3A, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q1

Là một trường trung học công lập danh tiếng ở Sài Gòn trước 1975 dành cho nữ học sinh.

Trường Nữ Trung Học Trưng Vương Sài Gòn trước 1975
Trường Nữ Trung Học Trưng Vương Sài Gòn trước 1975

Lịch sử

Trường Trưng Vương Sài Gòn là hậu thân của ngôi trường Trưng Vương Hà Nội (*).

– Năm 1954: trường được thiết lập khi một số giáo viên học sinh trườngTrưng Vương Hà Nội di cư vào Sài Gòn sau Hiệp định Genève 1954.

– Ban giám đốc đầu tiên gồm có: bà hiệu trưởng Tăng Xuân An, bà giám học Nguyễn Thị Phú – và bà tổng giám thị Nguyệt Minh.

– 3 năm học đầu tiên trường phải học nhờ trường nữ trung học Gia Long (khóa buổi chiều).

– Đến năm 1957: trường Trưng Vương dời về số 3 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, nguyên trước đó là bệnh viện của Quân đội Pháp mang tên Quân y viện Coste, gần Sở Thú Sài Gòn và trường trung học Võ Trường Toản (Sài Gòn). Cấp trung học 7 năm. Hiệu trưởng là người Việt. Đồng phục áo dài màu trắng.

Nữ sinh Trưng Vương Sài Gòn trước 1975
Nữ sinh Trưng Vương Sài Gòn trước 1975

Hàng năm, trường đã chọn ra 2 nữ sinh đẹp nhất đóng vai Hai Bà Trưng để diễu hành trong ngày giỗ 6 tháng 2 Âm Lịch.

Hàng năm, trường đã chọn ra 2 nữ sinh đẹp nhất đóng vai Hai Bà Trưng để diễu hành trong ngày giỗ 6 tháng 2 Âm Lịch..
Hàng năm, trường đã chọn ra 2 nữ sinh đẹp nhất đóng vai Hai Bà Trưng để diễu hành trong ngày giỗ 6 tháng 2 Âm Lịch..

– Từ năm 1975 đến nay: khi chính thể Việt Nam Cộng hòa chấm dứt thì trường cũng đóng cửa, nhường chỗ cho Trường Phổ thông Trưng Vương cấp III cho cả nam lẫn nữ học sinh. Cấp trung học 3 năm với đồng phục cho nữ học sinh là áo dài trắng và đồng phục cho nam học sinh là áo trắng quần xanh.

(*) Đôi nét về trường Trung học Trưng Vương Hà Nội (Tiền thân của trường Trung học Trưng Vương Sài Gòn):

Trường Trung học cơ sở Trưng Vương Hà Nội, tiền thân là trường nữ sinh Đồng Khánh là một trường trung học cơ sở tại Hà Nội.

– Năm 1917: Trường được thành lập với tên gọi là trường nữ sinh Đồng Khánh ngay bên cạnh Hồ Gươm, Hà Nội, trường là một trong các cơ sở giáo dục lâu đời nhất của Hà Nội và Việt Nam.

– Trước năm 1945: trường là cơ sở đào tạo dành riêng cho nữ giới.

– Từ sau năm 1945: trường bắt đầu đào tạo chung cho cả nam và nữ sinh.

– Từ năm 1948: trường đổi tên thành trường Trưng Vương.

– Từ năm 1950: trường chuyển về đường Hai Bà Trưng, Hà Nội. Cấp trung học 7 năm. Hiệu trưởng là người Việt. Đồng phục áo dài màu lam.  

Trường Trưng Vương nổi tiếng với hệ thống lớp chuyên Toán cấp II, đây là nơi từng đào tạo nhiều tài năng Toán học của Việt Nam như giáo sư Hoàng Xuân Sính (nữ tiến sĩ khoa học ngành Toán đầu tiên của Việt Nam) hay Hoàng Lê Minh (học sinh Việt Nam đầu tiên đoạt huy chương vàng Olympic Toán quốc tế)

(Nguồn Wikipedia)

Trường Trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký

Tháp đồng hồ
Tháp đồng hồ

Buổi đầu thành lập

Sau sự ra đời của trường Collège Chasseloup-Laubat (năm 1874) và trường Collège de Jeunes Filles Indigèges (1915), chính quyền thuộc địa Nam Kỳ mở thêm trường bậc trung học thứ 3 tại Sài Gòn.

Năm 1925, kiến trúc sư Hebrard de Villeneuve được giao nhiệm vụ vẽ đồ họa xây cất cho ngôi trường mới tại Chợ Quán.

Ngày 28 tháng 11 năm 1927, Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne ra nghị định thiết lập tại Chợ Quán một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat dành cho học sinh người bản xứ lấy tên là Collège de Cochinchine. Phân hiệu này được đặt dưới sự điều hành của Ban Giám đốc Trường Chasseloup Laubat và một giáo sư phụ trách tổng giám thị của phân hiệu.

Trường Pétrus Ký lúc mới khởi công xây dựng
Trường Pétrus Ký lúc mới khởi công xây dựng. Ảnh: Internet

Năm 1928, khi các khu trường mới xây dựng xong, ngày 11 tháng 8 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương tạm quyền René Robin ký nghị định số 3116 gồm 6 điều thành lập tại Chợ Quán, kể từ kỳ tựu trường 1928-1929 một trường Cao đẳng Tiểu học Pháp bản xứ, chuyển giao phân hiệu tạm thời với trên 200 học sinh của Collège Chasseloup Laubat nói trên vào trường này, có sát nhập một hệ Trung học Đệ nhị cấp bản xứ (Lycée). Nhân dịp khánh thành tượng đồng của nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký, Thống đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse chính thức đặt tên trường là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký. Do đó, trường còn có tên gọi là Petrus Ký, và tên này được sử dụng trong gần 50 năm.

Thời Pháp thuộc

Năm 1940, Câu lạc bộ học sinh trường Pétrus Ký được thành lập. Câu lạc bộ đã tổ chức các hoạt động như văn nghệ, thể thao, cắm trại, với những sinh hoạt rất phong phú, tập hợp được đông đảo học sinh của trường và nhiều trường khác. Cũng tại đây, Lưu Hữu Phước và Mai Văn Bộ viết bài hát La Marche des Étudiants, tiền thân của bài Tiếng gọi thanh niên và Tiếng gọi Công dân, Quốc ca của Việt Nam Cộng hòa.

Tượng Pétrus Ký trong khuôn viên trường
Tượng Pétrus Ký trong khuôn viên trường. Ảnh: Internet

Chỉ sau 1 năm, phong trào bị chính quyền thực dân cấm hoạt động do tuyên truyền các hoạt động yêu nước. Đến năm 1942, học sinh Pétrus Ký theo phong trào của học sinh sinh viên Hà Nội tập hợp nhau lấy tên là đoàn S.E.T (Section Exécution Tourisme). Đoàn S.E.T tổ chức theo kiểu hướng đạo, giáo dục lý tưởng sống lành mạnh, yêu nước, yêu dân tộc đang bị ngoại xâm thống trị và từ ý thức này gợi đến ý thức chống Đế quốc. Trong thời gian này, tại trường cũng có một số giáo sư âm thầm biểu lộ tình cảm yêu nước của mình qua tác phong bài giảng như Phạm Thiều, Lê Văn Chí, Trần Văn Thanh.

Năm 1942, trường di chuyển về trường sở Sư phạm Sài Gòn vì chiến cuộc nhưng không lâu sau lại mở cửa dạy học vào năm ấy tại trường sở cũ. Nhưng đến năm 1945, trường sở bị trưng dụng làm doanh trại của quân đội Nhật. Trường phải dời về khu tiểu học Tân Định và sau đó ngưng hoạt động.

Ngày 1 tháng 4 năm 1946, sau khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, trường mở cửa dạy lại trong Chủng viện đường Lucien Mossard và đến năm 1947, trở lại hoạt động nơi trường sở hiện tại.

Khu nội trú và sân trường
Khu nội trú và sân trường. Ảnh: Internet

Từ năm 1948, học sinh trường Pétrus Ký mở đầu phong trào đấu tranh đòi “Dạy và Học bằng Tiếng Việt”, bãi bỏ chế độ thi hà khắc, chống khủng bố kiềm kẹp học sinh. Trong ngày tựu trường 10 tháng 9 năm 1949, học sinh các trường kết hợp với trí thức và cha mẹ học sinh đưa yêu sách yêu cầu Bộ giáo dục giải quyết ngay và tiến hành bãi khóa kéo dài 1 tháng. Chính quyền thực dân Pháp đàn áp và bắt bớ. Giám đốc Nha học chính Nam phần ra lệnh đóng cửa hai trường Pétrus Ký và Gia Long, sau đó ra lệnh cho học sinh làm đơn xin đi học lại. Học sinh vẫn tiếp tục đấu tranh với 3 yêu sách:

• Lập tức thả ngay những học sinh bị bắt.
• Bảo đảm an ninh cho học sinh, không được khủng bố, bắt bớ vô cớ.
• Mở các trường vô điều kiện, không phải làm đơn xin học lại.

Ngày 9 tháng 1 năm 1950, hơn 2.000 học sinh trường Pétrus Ký, Áo tím Gia Long, Kỹ thuật… kéo đến trụ sở Nha học chính biểu tình, đưa yêu sách đòi thả các học sinh bị bắt. Sau đó, đoàn biểu tình kéo đến dinh Thủ hiến Nam phần. Chính quyền thực dân ra lệnh giải tán, đàn áp đoàn biểu tình dữ dội. Lúc này đoàn biểu tình đã lên đến 50.000 người đã chống trả mãnh liệt. Cảnh sát nổ súng bắn vào đoàn biểu tình. Học sinh Trần Văn Ơn, của trường Pétrus Ký, bị tử thương. Ban đấu tranh của học sinh tổ chức bảo vệ xác Trần Văn Ơn ở bệnh viện Chợ Rẫy và sau đó tổ chức lễ tang trọng thể tại trường.

Ngày 12 tháng 1 năm 1950, toàn thành phố đình công bãi thị, tham dự đám tang Trần Văn Ơn. Học sinh các trường trung học Mỹ Tho, Cần Thơ, Huế, Hà Nội kéo về Sài Gòn tham dự. Hầu như toàn bộ học sinh các trường đều có mặt tại trường Pétrus Ký mang theo khẩu hiệu ghi tên, trường và khẩu hiệu phản đối chính quyền. Hơn 1 triệu người xuống đường đưa đám tang. Đây là đám tang lớn nhất Sài Gòn, kể từ sau đám tang của cụ Phan Chu Trinh năm 1925.

Đông đảo học sinh Pétrus Ký và người dân miền Nam tham gia đám tang của Trần Văn Ơn
Đông đảo học sinh Pétrus Ký và người dân miền Nam tham gia đám tang của Trần Văn Ơn. Ảnh: Internet

Năm 1951 Ông Phạm Văn Còn, một viên chức cao cấp của xã Tây, được ân thưởng Légion d’honneur cấp officier, được cử làm Hiệu Trưởng của trường thay thế Thầy Lê Văn Kiêm. Ngoài công ơn đem trật tự cho trường Ông Phạm Văn Còn chỉnh trang trường sở như xây dựng cổng trường, dựng hàng rào gạch thay thế hàng rào bông bụp ở trước trường, xây nhà để xe đạp cho học sinh.

Cũng vào năm 1951 Thầy Ưng Thiều, giáo sư Hán văn, trong buổi học về thơ Đường, thầy có làm bài thơ tứ tuyệt sau đây:

Trường tôi ở tại lối Nancy,
Trung học đường kia có bảng ghi.
Mượn hiệu người xưa Trương Vĩnh Ký,
Lẫy lừng danh tiếng đã bao thì.

Thầy Ưng Thiều còn đặt hai câu đối để chỉ rõ đạo đức học tập và trí dục cho học sinh, được Ông Hiệu Trưởng Phạm Văn Còn chọn khắc trước cổng trường như sau:

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt
Tâu Âu khoa học yếu minh tâm

Cổng trường Pétrus Ký
Cổng trường Pétrus Ký. Ảnh: Internet

Thời VNCH

Sau hiệp định Genève từ tháng 5 năm 1954 trường Pétrus Ký bị trưng dụng cho di dân miền Bắc đến tạm trú. Đến tháng 10 năm 1954 trường mới được trả lại để khai giảng năm học mới và bắt đầu học chương trình Việt từ lớp đệ thất, các lớp học theo chương trình Pháp trước đây vẫn tiếp tục học theo cuốn chiếu và kỳ thi Tú Tài I và Tú Tài toàn phần Pháp vẫn tồn tại đến năm 1960. Bên cạnh trường Petrus Ký ở trong sân vận động Lam sơn, một dãy nhà tre lá cất tạm cho học sinh trường Chu Văn An ở Hà Nội chuyển vào học.

Ngày 30 tháng 3 năm 1955, xung đột giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên nổ ra. Công an xung phong của Bình Xuyên vào đóng tại trường Pétrus  Ký. Đến ngày 30 tháng 4 năm 1955, quân chính phủ đánh bật được quân Bình Xuyên ra khỏi trường Pétrus Ký và các điểm khác.

Năm 1961, trường được hợp thức hóa để trở thành trường Trung Học Đệ Nhị Cấp theo hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa.

Năm 1970, học sinh trường tổ chức từ bãi khóa đến xuống đường tham gia biểu tình, đánh chiếm tòa đại sứ Campuchia, phản đối hành động Lon Nol tàn sát Việt Kiều ở Campuchia. Đêm 5 tháng 9 năm 1970, học sinh Pétrus Ký cùng học sinh sinh viên các trường tổ chức đêm không ngủ của phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ ở miền Nam.

Năm 1972, Nguyễn Thái Bình, cựu học sinh Pétrus Ký, du học ở Mỹ đã công khai công kích chính quyền Mỹ trên diễn đàn nước Mỹ. Chính phủ Mỹ đã trục xuất anh khỏi nước Mỹ, và khi về đến Việt Nam, Nguyễn Thái Bình đã bị bắn chết trong “vụ án không tặc Nguyễn Thái Bình”.

Sau 1975

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi Quân Giải phóng miền Nam tiến vào Sài Gòn, đã đặt trụ sở Ban quân quản thành phố, do tướng Trần Văn Trà đứng đầu, tại trường sở. Trường Trung Học Pétrus Ký tạm thời đóng cửa đến tháng 7 năm 1975 thì mở cửa lại. Cuối tháng 9 năm 1975, các học sinh của trường học niên khóa 1974-1975 được dự thi bằng Trung Học Đệ nhất cấp và bằng Tú Tài.

Trường Pétrus Ký ngày nay
Trường Pétrus Ký ngày nay. Ảnh: Internet

Muốn vào học trường Pétrus Ký học sinh ưu tú của Saigon và các tỉnh phía Nam phải qua kỳ thi tuyển rất gay go, từ khi mới thành lập cũng vậy mà sau này cũng vậỵ Vì thuộc thành phần chọn lọc như vậy cho nên học sinh Pétrus Ký đậu rất nhiều và rất cao trong các kỳ thị Kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp năm 1959 chẳng hạn là kỳ thi rất hóc búa, toàn quốc chỉ có một người đậu hạng Bình mà thôi, và người đó là học sinh Pétrus  Ký. Về phương diện kỷ luật và trật tự thì có lẽ không có trường nào có kỷ luật và trật tự chặt chẽ, tốt đẹp bằng trường Pétrus Ký.

Phần đông giáo sư Pétrus Ký là giáo sư được chọn lọc, rất có căn bản chuyên môn và cũng rất đạo đức. Các giáo sư được bổ nhiệm về trường Pétrus Ký và một số các trường lớn khác ở Saigon thường phải là những người đậu đầu hay thật cao trong danh sách tốt nghiệp CĐSP hay ĐHSP sau này, hoặc những người đã dạy lâu năm ở tỉnh. Quý thầy đều rất tận tụy với việc giảng dạy, rất thương học sinh, và rất chú tâm đến việc bảo vệ uy tín và thanh danh của trường Một số giáo sư Pétrus  Ký đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục sau khi dạy ở trường một thời gian.

Từ ngày được thành lập cho đến khi trường bị đổi tên, trong suốt gần năm mươi năm hoạt động, trường trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký đã làm tròn sứ mạng giáo dục được giao phó, đã đóng tròn vai trò một định chế xã hội đối với quốc gia, đã đào tạo được không biết bao nhiêu nhân tài cho xứ sở, đã trở thành một trường trung học phổ thông nổi tiếng vào bậc nhất ở miền Nam Việt Nam.

Khuôn viên trường Pétrus Ký vào buổi đầu thành lập

Khu vực ban đầu của trường Petrus Ký
Khu vực ban đầu của trường Petrus Ký

Ảnh chụp lúc Chợ Lớn và Sài Gòn còn là hai thành phố riêng biệt, khoảng giữa là vùng ngoại ô ít người. Khu Nancy, góc Cộng Hòa và Trần Hưng Đạo còn là đầm lau sậy. Khu Nguyễn Trãi bán hoa còn là đồn lính Cây Mai. Trước 1945 , trường Pétrus Ký rộng, chiếm trọn tứ giác Cộng Hòa (nay là Nguyễn Văn Cừ), Thành Thái (nay là An Dương Vương), Trần Bình Trọng , Nguyễn Hoàng (nay là Trần Phú). Khi đó, trường thu hẹp chỉ còn hai dãy nhà dài ở phía lưng chừng trên bên phải và khu văn phòng phía cực phải trong hình. Phần phía dưới trong hình , trước đây dùng làm khu nội trú cho học sinh. Sau 1954 , tách riêng để lập trường Đại học Khoa học Tự nhiên và trường Sư phạm , phần lớn bị phá huỷ để xây dựng lại. Phần phía trái trong hình , là nhà tập thể cho các giáo viên , nhưng nghỉ dạy không thu hồi lại mà cho phép chuyển nhượng.

Các đời hiệu trưởng từ 1927-1975

1927-1929 1929-1931 1931-1933 1933-1938 1938-1944
Sainte Luce Banchelin

banchelin

Paul Valencot

Andre Neveu banchelin Paul Valencot lejeannicLe Jeannic
1944-1947 1947-1951 1951-1955 1955-1957 1957-1958
tailadeTaillade le-van-khiemLê Văn Khiêm pham-van-conPhạm Văn Còn nguyen-van-kinhNguyễn Văn Kính nguyen-van-thoNguyễn Văn Thơ
1958-1960 1960-1963 1963-1964 1964-1966 1966-1969
nguyen-van-truongNguyễn Văn Trương pham-van-luoc Phạm Văn Lược nguyen-thanh-liemNguyễn Thanh Liêm tran-ngoc-thaiTrần Ngọc Thái tran-van-thuTrần Văn Thử
1969-1971 1971-1971 1971-1973 1973-1975
tran-ngoc-thaiTrần Ngọc Thái tran-van-nhonTrần Văn Nhơn bui-vinh-lapBùi Vĩnh Lập nguyen-minh-ducNguyễn Minh Đức

Những hình ảnh khác

Hiệu đoàn trường Pétrus Ký
Hiệu đoàn trường Pétrus Ký. Ảnh: Internet

Các rạp cải lương xưa ở Sài Gòn

 Có một thời cải lương ở Sài Gòn rất được ưa chuộng. Đó là giai đọan cực thịnh hay giai đọan lên ngôi của cải lương miền nam Việt Nam trước 1975, nhiều rạp cải lương mọc lên chẳng thua kèm gì các rạp chiếu bóng thời đó. Và một số chủ rạp chiếu bóng thấy có nhiều đoàn hát cải lương, khán giả cải lương đông đảo hơn khán giả xem phim nên họ sửa các rạp chiếu phim thành rạp hát cải lương.

Khu vực Saigon:

Rạp Norodom – nay là Công ty Xổ số kiến thiết thành phố – 23, Lê Duẩn, P. Bến Nghé, Q1. Nằm đối diện với một đơn vị quân đội Pháp, sau là cơ quan chiến tranh chính trị của quân đội Việt Nam Cộng Hòa nên khán giả ngại, ít đến rạp này để xem hát. Đoàn Việt Kịch Năm Châu có hát ở rạp Norodom vài lần. Cơ quan xổ số Kiến Thiết Quốc Gia dùng rạp Norodom để xổ số kiến thiết mỗi tuần, có phụ diễn văn nghệ( ca múa nhạc). Rạp Norodom được đài phát thanh Pháp Á chọn làm nơi ổ chức cuộc thi tuyển lựa ca sĩ nhi đồng vào năm 1956, và nữ ca sĩ Khánh Ly đạt giải nhất, nữa ca sĩ Lệ Mai đạt giải nhì trong cuộc thi này. Cuối năm 1954 Ca sĩ Thúy Nga ( vợ của cố nhạc sĩ Hoàng thi Thơ) dự thi Tuyển lựa Ca Sĩ do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức tại rạp Norodom, và cô thiếu nữ Thúy Nga 18 tuổi lúc bấy giờ đã đoạt giải nhất của cuộc thi Sau này rạp Norodom trở thành Công ty Xổ số kiến thiết thành phố trên đường Lê Duẩn, Q1

Rạp Norodom ngày nay là công ty Xổ Số Kiến Thiết

Rạp Aristo – nay là khách sạn New World – 76, Lê Lai, P. Bến Thành, Q1.

Aristo là một rạp hát cải lương lớn ở Sài Gòn trước năm 1954. Rạp Aristo, còn có tên gọi là Trung Ương Hí Viện, nằm trên đường Colonnel Budonnet tức đường Lê Lai ngày nay. . Đây từng là nơi trình diễn thường trực của đoàn cải lương Kim Chung di cư từ miền bắc vào nam.

Không ai còn nhớ tên người chủ rạp Aristo, tức Trung Ương Hí Viện, và cũng không ai biết nó có tự bao giờ. Thuở đầu tiên, đó là một nhà hàng sang trọng, có một sân khấu nhỏ để những tối thứ bảy, ban đờn ca tài tử đến ca giúp vui cho thực khách. Có khi chủ nhà hàng thay ban đờn ca cổ nhạc bằng một dàn nhạc nhẹ chuyên trình tấu các bản nhạc cổ điển Pháp, dàn nhạc Tây có piano, violin, saxo, clarinette. Trong số thực khách quen thuộc có ông Trưởng tòa Phan Văn Thiết, ông Đốc phủ Đỗ Văn Rỡ, ký giả Trần Tấn Quốc, ông Thân Văn Nguyễn Văn Quý, ông Nguyễn Công Thiện, Giám đốc hãng xăng Esso-Sài Gòn, là những người say mê nghệ thuật hát bội nên thường rước các ban hát bội về hát tại nhà hàng Aristo. Đầu năm 1940, do khán giả đến xem hát rất đông nên ông chủ nhà hàng mới dẹp cái restaurant đó, phá nó để xây lại thành một rạp hát đàng hoàng, có sân khấu theo đúng tiêu chuẩn của một rạp hát lớn, có hậu trường, có hầm sân khấu và khán phòng với 800 ghế ngồi bọc simili đỏ (vải cao su giả da màu đỏ) giống các rạp chiếu phim Tây như rạp Moderne, rạp Majestic, rạp Eden.

Rạp Aristo từng được các đoàn cải lương đại ban về diễn như gánh hát Nam Phi của bầu Năm Phỉ-Chín Bia, gánh cải lương tuồng Tàu Phụng Hảo của bầu Nhơn-Phùng Há, gánh hát thi ca vũ nhạc Nam Hồng của bầu Trình, gánh hát Hoa Sen của bầu Bảy Cao, gánh Việt Kịch Năm Châu của ông bầu Năm Châu.

Rạp Aristo trước 1975
Rạp Aristo ngày nay là khách sạn New World Sài Gòn

* Một số sự kiện lớn liên quan đến rạp Aristo:

Hai phong trào: Chấn Hưng Hát Bội và Canh Tân Hát Bội cũng được tổ chức tại rạp Aristo:

Năm 1948-1949, ông Thân Văn Nguyễn Văn Quý và bác sĩ Võ Duy Thạch phối hợp với ký giả Trần Tấn Quốc, Đốc phủ sứ Đỗ Văn Rỡ và Trưởng tòa Phan Văn Thiết mời các ban hát bội về diễn tại rạp Aristo, với các thành phần diễn viên tài danh nhất của ngành hát bội như Năm Đồ, Mười Sự, Minh Tơ, Mười Vàng, Tám Văn, Năm Còn, Tư Châu, Ba Út, Kim Chắc… Họ hát các tuồng thầy như: San Hậu, Tam Nữ Đồ Vương, Trầm Hương Các; và các tuồng hát bội với cốt truyện Tàu như: Trảm Trịnh Ân, Đào Tam Xuân, Phụng Nghi Đình, Lưu Kim Đính, Xử Án Bàng Quí Phi…

Lúc đó, có những nghệ sĩ muốn Canh Tân Hát Bội bằng cách tuy vẫn hát tích truyện cũ nhưng lời văn bỏ bớt những câu chữ Nho, bớt lối văn biền ngẩu mà thay vào đó bằng những câu văn thường hoặc sau khi hát câu chữ Nho, nghệ sĩ nói lối thêm bằng văn thường để nói lên ý nghĩa của câu chữ Nho vừa mới hát giúp cho khán giả không biết chữ Nho có thể hiểu cốt truyện tuồng. Ngoài ra, những người chủ trương Canh Tân Hát Bội còn bớt lối hát Nam, hát Khách bằng cách xen vào ca các bài bản cải lương theo lối hát cải lương tuồng Tàu. Họ lượt bỏ khỏi dàn nhạc hát bội những trống chiêng, kèn lá, thêm tranh cảnh và y trang như các đoàn hát tuồng Tàu, các đoàn hát Quảng Đông.

Nhiều nghệ sĩ hát bội bậc thầy như Tám Văn, Mười Vàng, Năm Đồ, Ba Út và các nhà trí thức say mê nghệ thuật hát bội như các ông Đỗ Văn Rỡ, Thân Văn Nguyễn Văn Quí, ký giả Trần Tấn Quốc đã vận động báo chí ủng hộ sự thành lập Ban Chấn Hưng Hát Bội do ông Thân Văn Nguyễn Văn Quí và bác sĩ Võ Duy Thạch trực tiếp điều hành. Đây là một hội đoàn tư nhân, họ kiên trì vận động các nghệ sĩ hát bội có tâm huyết với nghề để bảo vệ nghệ thuật cổ truyền, chống sự lai tạp theo kiểu hát bội pha cải lương.

Hội Khuyến Học Nam Việt tích cực vận động các ký giả các nhật báo và tạp chí văn học, các nhà trí thức thích xem hát ủng hộ chủ trương đứng đắn của Ban Chấn Hưng Hát Bội, nên vào năm 1952 Ban Chấn Hưng Hát Bội xin được giấy phép thành lập Hội Khuyến Lệ Cổ Ca do chánh phủ Nam Việt cấp. Hội Khuyến Lệ Cổ Ca lấy rạp Aristo làm trụ sở, mở nhiều cuộc hội họp diễn thuyết chủ trương của Hội.

Đoàn Việt Kịch Năm Châu với chủ trương “Sân Khấu Thật và Đẹp” tại rạp Aristo:

Sự kiện quan trọng đáng ghi nhớ là đoàn Việt Kịch Năm Châu công bố chủ trương thực hiện một sân khấu “Thật và Đẹp” trong dịp tổ chức cúng Tổ năm 1952 tại rạp Aristo.

Đứng đầu các ký giả có nhiệt tâm với nghệ thuật sân khấu là ông Trần Tấn Quốc, ông nhiệt liệt hoan hô và tán thành chủ trương thực hiện một sân khấu “Thật và Đẹp” của nghệ sĩ Năm Châu.

Do quan niệm sân khấu cải lương “Thật và Đẹp” nên soạn giả Năm Châu hướng dẫn cho nghệ sĩ trong đoàn hát nên chú trọng nghệ thuật diễn xuất, biểu hiện nội tâm nhân vật qua lời đối thoại, bớt ca cổ nhạc. Trong tuồng ít viết vọng cổ và trước khi nghệ sĩ ca vọng cổ, dàn đờn không rao trước để cho nghệ sĩ bắt hơi. Nghệ sĩ diễn như diễn kịch và ca cổ nhạc theo khuynh hướng ca nói (ca như nói chớ không đưa hơi ơ… ơ… như lối ca từ trước đến nay).

Đoàn Việt Kịch Năm Châu mất dần khán giả vì trong thời kỳ này khán giả thích nghe ca vọng cổ với những giọng ca vàng như giọng ca của Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Thanh Hương, Út Bạch Lan.

Rạp Aristo: Nơi khai sinh đoàn cải lương Kim Thanh-Út Trà Ôn :

Cuối năm 1954, sau khi mãn hợp đồng với đoàn hát Thanh Minh bầu Năm Nghĩa, các nghệ sĩ Kim Chưởng, Út Trà Ôn, Thanh Tao và Thúy Nga hợp tác với nhau thành lập đoàn hát Kim Thanh-Út Trà Ôn (Kim Thanh-Út Trà Ôn là tên ghép của ba danh ca Kim Chưởng + Thanh Tao + Út Trà Ôn). Đoàn cải lương Kim Thanh mướn rạp Aristo với một giá thật rẻ để làm chỗ tập tuồng, đóng cảnh trí và quy tụ nghệ sĩ. Từ năm 1953-1954, ít khán giả đến rạp Aristo xem hát vì các đoàn hát lớn hát ở rạp Nguyễn Văn Hảo, rạp Thành Xương, là những rạp ở mặt tiền đường lớn. Ông chủ rạp cho đoàn Kim Thanh-Út Trà Ôn mướn với giá rẻ để đoàn hát làm chỗ tập tuồng với ý muốn nhờ đoàn Kim Thanh mà phục hồi phong độ của rạp Aristo như hồi cực thịnh (năm 1940-1952). Đòan Kim Thanh-Út Trà Ôn hát khai trương tuồng Tình Duyên Hoa Thắm vào ngày 04/01/1955, hát vở này suốt 3 tuần lễ. Thành phần nghệ sĩ gồm có danh ca Út Trà Ôn, Thanh Tao, Phước Trọng, Kim Chưởng, Thanh Hương, Thúy Nga, Út Bạch Lan,…và hát các tuồng: Trăng Nước Lam Giang, Tình Duyên Hoa Thắm, Thoại Khanh Châu Tuấn, Sau Bức Màn Nhung.

Rạp Aristo: Nơi khai sinh và diễn thường trực của đoàn Kim Chung-Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt:

Vào tháng 10 năm 1954, ông bầu Trần Viết Long ký hợp đồng mướn rạp Aristo trong một năm với một giá rất rẻ để làm nơi tập tuồng và củng cố lại đoàn hát Kim Chung-Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt vừa mới di cư vào Nam sau hiệp định đình chiến Genèvre 54. Thời kỳ đó chưa có đoàn hát nào ở miền Nam hát thường trực hằng tháng ở một rạp. Thế nhưng đoàn Kim Chung-Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt đã lập kỷ lục hát liên tục 40 suất một vở tuồng (tuồng Trăng Giãi Đêm Sương) tại rạp Aristo, khiến cho báo chí, nghệ sĩ và các ông bà bầu gánh hát cải lương miền Nam phải chú ý và để tâm nghiên cứu hiện tượng này.

Đến năm 1958, đoàn Kim Chung không thu hút được khán giả nữa. Và sau năm 1958, khi Kim Chung mướn rạp Olympic làm nơi diễn thường trực thì rạp Aristo bị bỏ hoang, cho đến sau năm 1975, vùng đất này được dùng làm nơi cất lên khách sạn năm sao, Sài Gòn New World Hotel, chấm dứt vĩnh viễn sự tồn tại của rạp hát Aristo.

(Theo soạn giả Nguyễn Phương)

Rạp Olympic –  nay là Trung tâm Văn hóa TP.HCM – 97, Nguyễn Thị Minh Khai, P. Bến Thành, Q1. Rạp được công ty Kim Chung của ông bầu Long độc quyền cả chục năm trời từ sau năm 1958 cho 5 đoàn hát của công ty luân phiên diễn. Với các vở diễn nổi tiếng một thời: Mạnh Lệ Quân, Lan và Ðiệp,….

Image
Rạp Olympic thập niên 60
Rạp Olymic bây giờ là Trung tâm văn hoá thành phố

*  Khu vực “ngã tư quốc tế” (trục Phạm Ngũ Lão, Trần Hưng Đạo ngày nay)  trở thành một trong những khu hoạt động nhộn nhịp nhất của làng văn nghệ Sài Gòn ngày đó. Mặc dù mật độ các rạp hát khá dày (Nguyễn Văn Hảo, Thanh Bình, Hưng Đạo, Quốc Thanh, Khải Hoàn) nhưng các đoàn hát lớn thường xuyên tập kết về, đây trở thành nơi tập trung, điểm hẹn của nhiều nghệ sĩ, giới ký giả kịch trường, các ông bà bầu muốn “săn” đào kép mới cũng tìm đến đây. Các rạp thuộc khu vực này gồm:

Rạp Quốc Thanh – nay là nhà hàng, tiệc cưới Quốc Thanh – 271, Nguyễn Trãi, P. Nguyễn Cư Trinh, Q1. Được thành lập năm 1960 khi đoàn Thái Dương ra đời, rạp cũng là nơi đóng đô của đoàn Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân. Rạp có máy lạnh, có 1000 ghế trong khán phòng và sân khấu được thiết kế rộng rãi.

Rạp Quốc Thanh giờ là nhà hàng tiệc cưới Quốc Thanh

Rạp Thanh Bình – sau đổi là rạp Quốc tế, gần chợ Thái Bình trên đường Phạm Ngũ Lão, nay là căn hộ chung cư cao cấp. Là rạp có thang cuốn đầu tiên ở Việt Nam  tại Sài Gòn. Lúc đầu là rạp chiếu bóng, sau được ông Diệu sửa thành rạp cải lương để đoàn hát Thủ Đô của ông Ba Bản khai trương, ghi một dấu ấn sâu sắc trong lãnh vực nghệ thuật sân khấu cải lương là có một đoàn hát Thủ Đô có nhiều tuồng hay, có cảnh trí tuyệt đẹp và dàn cảnh vĩ đại.

Rạp Thanh Bình giờ là căn hộ chung cư cao cấp, phía dưới là International Plaza

Rạp Hưng Đạo – 136, Trần Hưng Đạo, P. Phạm Ngũ Lão, Q1. Ra đời ở thập niên 60. Hiện tại rạp đã bị đập ra cho dự án xây dựng thành Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Cải lương TPHCM.

Nghệ sĩ cải lương trong các thập niên 60, 70, 80, không có nghệ sĩ nào là không có dịp hát trên sân khấu của rạp hát Hưng Đạo, một rạp hát lớn nhất ở Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Do đó, rạp hát Hưng Đạo lưu giữ nhiều kỷ niệm, nhiều sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển của nhiều đoàn hát đại ban. Rạp Hưng Đạo cũng là nơi mà nhiều đoàn hát đã hát những tuồng xã hội cận đại rất hay, nhiều tuồng Tàu, tuồng Hồ Quảng và cả những tuồng chiến tranh của đoàn hát Hoa Sen. Ngày nay, mỗi khi nhắc lại những tuồng từng thu hút đông đảo khán giả, các nghệ sĩ cải lương còn rút ra được nhiều bài học quí giá về kỹ thuật dàn dựng tuồng, nhiều cốt truyện hay, nhiều giai thoại về các nghệ sĩ thinh sắc lưỡng toàn, những chuyện tình không đoạn kết giữa nghệ sĩ và khán giả, giữa nghệ sĩ và nghệ sĩ…

Năm 1958, ông Nguyễn Thành Niệm, một nhà tư sản chủ hãng xuất nhập cảng xe hơi, đồ phụ tùng xe hơi, xe gắng máy, tủ lạnh và máy lạnh ở ngay ngã tư các đường Hưng Đạo, Nguyễn Cư Trinh và Cô Bắc, bỏ tiền ra xây cất tòa nhà Hưng Đạo 1, Rạp Hưng Đạo và một tòa nhà khác được đặt tên là Hưng Đạo 2 ở ngay ngã tư, góc đường Phát Diệm và đường Hưng Đạo.

Đến đầu năm 1960 thì ba công trình xây cất này mới hoàn thành và đưa vào thị trường khai thác. Lúc đó đoàn Thanh Minh-Thanh Nga còn mướn thường trực rạp hát Thành Xương ở đường Yersin của ông Phạm Minh Tấn. Ông Ân, em vợ của ông Nguyễn Thành Niệm, được trao quyền quản lý rạp Hưng Đạo. Ông Ân đã mời bà bầu Thơ đến văn phòng của ông trên lầu ba ở ngay mặt tiền rạp Hưng Đạo để giới thiệu rạp hát và mời bà bầu Thơ đưa đoàn hát Thanh Minh-Thanh Nga về hát khai trương và ký hợp đồng hát thường trực ở rạp Hưng Đạo.

Rạp mới Hưng Đạo có 1100 ghế, trừ đi những hàng ghế có chữ R tức réserver dành cho chủ rạp, đoàn hát còn 1000 ghế, chia ra 300 ghế thượng hạng giá vé mỗi ghế là 120 đồng, 200 ghế hạng nhứt, mỗi vé là 80 đồng, 200 ghế hạng nhì, mỗi vé là 60 đồng, 300 ghế hạng ba, mỗi vé là 40 đồng, nếu bán hết số vé trên, số thu trong một đêm là 76.000 đồng. Rạp Hưng Đạo ở địa điểm tốt, có máy lạnh nên dù hát trưa chúa nhựt hay những ngày mùa hè, khán giả đến xem hát nghẹt rạp vẫn cảm thấy thoải mái, dễ chịu.

Trong bảy năm, từ 1960 đến năm 1967, đoàn Thanh Minh-Thanh Nga hát thường trực tại rạp Hưng Đạo, lúc nào cũng đông khách, với những tuồng hát: Nửa Đời Hương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Đôi Mắt Người Xưa, Ngả Rẽ Tâm Tình, Áo Cưới Trước Cổng Chùa, Vàng Sáu Bạc Mười, Bọt Biển 1 (Chuyện Chúng Mình) Bọt Biển 2 (Chuyện Xóm Mình, Bọt Biển 3 (Chuyện Tình và Tiền), Bọt Biển 4 (Chuyện Trên Cung Trăng), Hoa Mộc Lan, Rồi Ba Mươi Năm Sau.

Bà bầu Thơ biết khi có tuồng mới, đáp ứng theo yêu cầu của khán giả thì đoàn hát sẽ có doanh thu cao, vì vậy bà dám mướn bảy soạn giả thường trực, luân phiên cung cấp tuồng mới cho gánh hát. Đó là các soạn giả Hà Triều, Hoa Phượng, Thiếu Linh, Nguyễn Phương, Kiên Giang, Hoàng Khâm, Viễn Châu.

Khán giả trí thức, công chức, các bà chủ sạp trong các chợ Bến Thành, cầu Ông Lãnh, chợ An Đông, các em học sinh và đông đảo các cô vũ nữ, gái bán bar là khán giả thường xuyên của đoàn hát Thanh Minh-Thanh Nga. Họ thân thiết với nghệ sĩ, có nhiều nghệ sĩ có vợ trong giới vũ nữ. Ở đô thành tình hình an ninh bảo đảm, sinh hoạt của dân chúng trong các lãnh vực mua bán, ăn uống, giải trí về đêm ngày càng phát triển, điều đó giúp cho các nhà tư sản dám bỏ vốn ra đầu tư xây dựng thêm nhiều rạp hát và lập ra nhiều gánh hát cải lương.

(Theo soạn giả Nguyễn Phương)

Image
Rạp Hưng Đạo xưa
Rạp Hưng Đạo nay đã bị đập và tạm thời là nơi rửa xe

Rạp Nguyễn Văn Hảo – nay là rạp Công Nhân, trụ sở Nhà Hát Kịch Thành Phố, Số 30, Trần Hưng Đạo, P. Phạm Ngũ Lão, Q1. Mộtrạp hát được mệnh danh là Hàng Không Mẫu Hạm trước 1975, nơi đóng đô của một số đoàn hát cải lương lớn ở Sài Gòn ngày trước như: đoàn Việt Kịch Năm Châu, đoàn Hương Mùa Thu, đoàn Hoa Sen.

Mặt tiền của Rạp hát Nguyễn Văn Hảo hướng về đường Galliéni (đường Trần Hưng Đạo hiện nay), một con đường tráng nhựa rộng lớn, chạy từ place Cuniac, đầu đường phía Saigon ngang ga xe lửa chạy dài vô đến đường An Bình (Đồng Khánh) con đường tiếp nối vô ChợLớn có tên là đường Les Marins, chạy dài đến đường Tổng Đốc Lộc. Đường Galliéni được xem là con đường giao thông huyết mạch từ Saigon đi Chợ Lớn.

Cửa hậu của rạp Nguyễn Văn Hảo trổ ra đường Bùi Viện.

Ông Nguyễn Văn Hảo, chủ nhân rạp Nguyễn Văn Hảo, cũng là chủ nhân hai dãi phố lầu chạy song song trên đường Galliéni (đường Trần Hưng Đạo hiện nay) từ ngã tư đường Kitchener ( Nguyễn Thái Học) và đường Galliéni, chạy đến đường Bùi Viện, mỗi bên đường có hơn mười căn phố lầu. Góc đường mũi tàu Bùi Viện, Kitchener và Galliéni, là cửa lên lầu ba của vũ trường Tour D’Ivoire.

Ông Nguyễn Văn Hảo chủ rạp hát Nguyễn Văn Hảo và chủ hai dãi phố lầu cũng là chủ nhân cây xăng ngay góc đường Yersin và Galliéni.

Rạp Nguyễn Văn Hảo có ba tầng khán phòng. Tổng cộng số ghế cho khán giả trong rạp là 1200 ghế, ( chưa kể ghế súp đặt dọc theo đường đi khi gánh hát bán hết vé chánh thức.). Đây là rạp hát có nhiều số ghế nhất ở Saigon, Chợ Lớn và Gia Định nên được các nghệ sĩ gọi tặng là Hàng Không Mẫu Hạm Nguyễn Văn Hảo..

Lầu ba dành cho khán giả hạng ba có 300 ghế, Ghế ở lầu ba được đóng bằng ván dài, trên một cái dàn gổ, ghế được đóng từng hàng từ thấp lên cao như ghế băng trong các rạp hát xiệc.

Lầu hai dành cho khán giả hạng nhì và hạng nhất có 400 ghế bọc nêm da đỏ có lưng dựa..

Tầng trệt có 500 ghế bọc nệm da đỏ, dành cho khán giả thượng hạng và hạng nhất.

Phía tay mặt của rạp hát, có một hành lang rộng 5 thước ngang, dài từ cửa trước đến sát phông sân khấu (độ 50 thước) Hành lang này dành cho đoàn hát để phông màn, chổ làm tuồng của một số đào, kép hạng ba , vũ nữ và quân sĩ. Phía ngoài để xe gắn máy của nghệ sĩ.

Kế bên rạp hát phía mặt ( từ trong rạp nhìn ra đường) là restaurant Vạn Lộc, chủ nhân là bà Vạn Lộc, thân mẫu của trung úy Danh, chồng của nữ nghệ sĩ Thanh Xuân, đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga.

Từ năm 1954 đến năm 1960, rạp Nguyễn Văn Hảo là rạp hát lớn nhất, có sân khấu rộng và sâu nhất, khán giả đến xem đông nhất, đó là những thuận lợi giúp cho các bầu gánh, soạn giả và họa sĩ thực hiện những tiến bộ kỷ thuật và nghệ thuật để nâng cao trình độ của sân khấu cải lương.

Một số đoàn hát nổi tiếng từng hát ở rạp Nguyễn Văn Hảo:

Rạp là nơi đoàn Việt Kịch Năm Châu diễn tuồng Tây Thi Gái Nước Việt. Và cũng là nơi đoàn cải lương Hương Mùa Thu của ông bầu Thu An thực hiện kỷ thuật sân khấu cải lương panorama. Khai trương sân khấu cải lương panorama, đoàn Hương Mùa Thu hát tuồng Lá Của Rừng Xanh. Ngoài ra Đoàn cải lương Hoa Sen của ông bầu Bảy Cao cũng về hát ở đây với việc thực hiện sân khấu quay với tuồng hát khai trương là Mộng Hoà Bình. Đoàn Hoa Sen của ông Bầu Bảy Cao là đoàn hát có doanh thu cao nhứt trong tất cả các đoàn hát cải lương trong cuối thập niên 50. Đây là một đoàn cải lương lần đầu tiên ở Việt Nam thực hiện được sân khấu quay.

Trong cuối thập niên 80, rạp hát Nguyễn Văn Hảo sửa thành nhà hát Kịch Công Nhân, làm mất đất sống của dân cải lương, dành chổ cho ngành kịch nụ cười mới.. Người ta nói là nâng cáp cải lương nhưng dẹp bỏ rạp hát cải lương.

(Theo soạn giả Nguyễn Phương)

Rạp Nguyễn Văn Hảo xưa
Rạp Nguyễn Văn Hảo xưa từng là nơi đóng đô của đoàn Việt Kịch Năm Châu
Rạp Nguyễn Văn Hảo giờ được đổi tên thành rạp Công Nhân

Rạp Khải Hoàn – Nay là Trung Tâm Điện Máy, góc Cống Quỳnh – Phạm Ngũ Lão, Q1.

Rạp Khải Hoàn ngày nay là Trung tâm điện máy Tâm Hoàn Châu

Rạp Thành Xương – góc đường Phạm Ngũ Lão và đường Yersin, Q1. Sau này trở thành rạp cinê và đổi  tên thành rạp Diên Hồng.

Rạp nằm gần đình Cầu Quan. Đoàn Thanh Minh-Năm Nghĩa trình diễn tuồng Đứa Con Hai Giòng Máu tại rạp Thành Xương. Cô Ngọc Nuôi là diễn viên tài sắc của gánh hát Thỉ Phát Huê cũng hát tại rạp này. Đoàn Phụng Hảo của Cô Bảy Phùng Há đóng đô ở đây hát  vở “Khi người điên biết yêu” có kép Ba Vân và Năm Châu thủ diễn. Ngòai ra, nghệ sĩ Hữu Phước về cộng tác với đoàn Thanh Minh, cũng hát thường trực tại rạp Thành Xương.

Rạp Thành Xương nay là nhà hàng-bar

Khu vực Chợ Lớn:

Rạp Hào Huê – Saunày đổi thành rạp Nhân Dân – 372-374, Trần Phú, P7, Q5.

Rạp ở gần khu Lacaze là rạp hát của gánh hát Quảng cũng được sửa lại cho gánh cải lương mướn.

Rạp LUX – Sau  đổi là rạp Lao Động B rồi trở thành vũ trường Monaco. Nằm trên đường Trần Hưng Đạo, cạnh chợ Nancy và đường Nguyễn Biểu (cầu Chữ Y). Sau  đổi là rạpLao Động B rồi trở thành vũ trường Monaco. Đây cũng là nơi nữ nghệ sĩ lừng danh Thanh Nga bị ám sát hụt vào ngày 16 tháng 03 năm 1977, trong lúc đoàn Thanh Minh diễn tuồng Tiếng trống Mê Linh. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga bị thương nhẹ, hai nhạc sĩ tân nhạc chết tên là Trần Văn Mùi và Lê Hiếu Đức.

Rạp Thủ Đô – nằm trên đường Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn, giờ là 125A, Đường Châu Văn Liêm P.14, Quận 5. Tên cũ là Eden Chợ Lớn. Đối diện rạp Toàn Thắng. Giờ là Sân khấu ca nhạc tạp kỹ của Bầu Duy Ngọc. Chuyên công diễn cải lương, đại nhạc hội.

Rạp Palikao – Gần cầu Palikao, Chợ Lớn:

Ở Chợ lớn có rạp hát Palikao dưới dốc cầu Palikao. Rạp Palikao là nơi diễn thường trực của gánh hát bội Phước Thắng của Bà  Ba Hộ nên rạp Palikao còn được gọi là  rạp Bà Hộ. Con bà Ba Hộ là bà Ba Ngoạn – mẹ của câu Tư Phước Cương (ông là bầu gánh Phước Cương, chồng của cô Năm Phỉ và cô Bảy Nam, cha của nữ nghệ sĩ kịch nói Kim Cương). Rạp Palikao cũng có cho các gánh hát cải lương mướn để trình diễn.

Khu vực Gia Định:

Rạp Hùynh Long – nằm trong chợ Bà Chiểu, trên đường Châu Văn Tiếp (nay là đường Vũ Tùng), gần cửa chính của Lăng Ông.

Là nơi Ðoàn Thái Dương 3, nghệ sĩ Thành Ðược vừa thay thế soạn giả Nguyễn Huỳnh đảm trách nhiệm vụ giám đốc, với thành phần nghệ sĩ tên tuổi gồm Thành Ðược, Diệp Lang, Văn Chung, Hoàng Long, hề Kim Quang, Phượng Liên, Kim Ngọc, Hoàng Vân… diễn  tại đây

Rạp Cao Đồng Hưng – Sau đổi tên thành rạp Gia Định, giờ là nhà sách Thiếu Nhi Gia Định. Trên đường Bạch Đằng, Q Bình Thạnh.Rạp Cao Đồng Hưng trang bị toàn ghế bằng sắt có lỗ nhỏ, phía sau gần cửa vào thì có cả vài hàng ghế cây, học trò trường Hồ Ngọc Cẩn rất  “thân quen” với rạp này.

* Một sự kiện lớn ở rạp Cao Đồng Hưng: Ngày 26 tháng 11 năm 1978, đoàn Thanh Minh diễn tại rạp Cao Đồng Hưng ở Gia Định, vở tuồng Thái Hậu Dương Vân Nga. Sau khi diễn xong, như thường lệ, Thanh Nga cùng chồng là ông Phạm Duy Lân và con là Phạm Duy Hà Linh lên xe về nhà riêng ở số 114 đường Ngô Tùng Châu Sai Gòn. Bọn cướp định bắt cóc cháu Cúc Cu, Thanh Nga và chồng bị hai người lạ mặt bắn chết sau khi dằng co để giựt lại đứa bé 6 tuổi tên Cúc Cu, con trai duy nhứt của họ (Cúc Cu là tên thân mật trong gia đình để gọi Phạm Duy Hà Linh).

Image
Rạp Cao Đồng Hưng xưa

Rạp Văn Cầm – lúc đầu là rạp chiếu bóng sau đó được chuyển thành rạp cải lương cho các đòan cải lương về hát. Rạp Văn Cầm ngày trước có ở 3 địa điểm nhưng đều cùng 1 chủ:

– Văn Cầm, Phú Nhuận: ngay ngã ba đường Võ Di Nguy (nay là Phan Đình Phùng) & Nguyễn Huỳnh Đức (Huỳnh Văn Bánh)

– Văn Cầm, Chợ Quán: Đường Trần Hưng Đạo, gần chợ Nancy.

– Văn Cầm, Thị Nghè: đường Pham Viết Chánh, Thị Nghè, gần trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây

Image
Rạp Văn Cầm xưa

Rạp Thuận Thành – ở đường Paul Bert (Trần Quang Khải), về sau bị phá đi để xây rạp chiếu bóng Văn Hoa, ở số 62 Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1, từng là nơi đóng quân của đoàn Phụng Hảo.

Khu vực Gò Vấp:

Rạp Lạc Xuân – (nay là Nhà sách Lạc Xuân) – đường Nguyễn Văn Nghi – Phường 7, Gò Vấp.

Rạp Đông NhìSau đổi là rạp 30/4, nay là trung tâm thời trang EVENNA & KAP’S (cùng chủ với Đại Đồng Gia Định ở đường Nơ Trang Long và Đại Đồng Sài Gòn ở đườn Cao Thắng, Bàn cờ, cũng là chủ rạp Đại Đồng Hà Nội di cư vào Nam). Rạp Đông Nhì là rạp bình dân.

Khu vực Phú Lâm:

Rạp Cây Gõ 46 Minh Phụng, P.6, Quận 6, ở gần chợ Cây Gõ. Thời cực thịnh của cải lương, ở đây các đoàn hát về diễn liên tục.

Rạp Quốc Thái – 1557 Đường 3 Tháng 2, Phường 6, Quận 11

Khu vực Nhà Bè:

Rạp Tân Mỹ nằm ở Nhà Bè gần Cầu Hàng ngày xưa, (không biết trước 1975 đoạn đường này tên gì, nhưng bây giờ có tên là Trần Xuân Soạn)

Một số đình cũng được các đòan cải lương và hát bội chọn làm nơi thường trực để biểu diễn:

Đầu đường Nguyễn Thái Học (ngã ba Phạm ngũ Lão) đỗ xuống tận Cầu Ông Lảnh là nơi tọa lạc 2 rạp: đình Tân Kiểng và Nam Tiến, dành cho những khán giả dể tính, sau này chỉ để cho các đoàn cải lương, hát bộ, hồ quảng

Ngoài ra còn có các đình Cầu Quan, đình Cầu Muối ( quận nhứt): nơi đóng đô của hai đoàn cải lương tuồng cổ nổi tiếng Minh Tơ và Huỳnh Long, đình Tân Kiểng( quận 5 ), đình Lý Nhơn( quận 4), đình Minh Phụng( Phú Lâm), đình Dọn Bàn, đình Tân An, đình Phước Thành ở Dakao, đình Phú Nhuận cũng có các gánh hát nhỏ ( hát bội hoặc các đoàn cải lương tỉnh) đến mướn đình để hát.

Tổng hợp từ Internet

Thạch chè Hiển Khánh

Khách đến tiệm chè Hiển Khánh không chỉ ăn chè, đọc thơ mà còn tìm về ký ức. Ảnh: báo Đất Việt

Tiệm chè Hiển Khánh ra đời vào năm 1959 bởi hai đồng sở hữu là ông Trần Nghệ và ông Nguyễn Quý Quyền. Về sau, hai ông giao tiệm lại cho chị Nguyễn Thị Nguyệt Minh (con ông Quyền) tiếp quản.

Ban đầu, tiệm chè Hiển Khánh mở ở Đa Kao, gần rạp Cầu Bông nhưng quá chật nên ông Quyền mở thêm một tiệm nữa ở đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) từ năm 1965 và duy trì đến bây giờ. Tiệm Hiển Khánh ở Đa Kao thì không còn nữa.

Theo một số cựu học sinh các trường trung học Gia Long, Chu Văn An, Petrus Ký, sinh viên các trường đại học, cao đẳng vào thập niên 1965 – 1975, họ bị Hiển Khánh “mê hoặc” bởi cách trang trí thơ và câu đối do ông chủ tiệm sáng tác. Những bài thơ ca ngợi sự bổ dưỡng của hai món chủ lực là thạch trắng và đậu xanh, hoặc giải thích ý nghĩa bánh lá gai, bánh phu thê… do 2 ông chủ cảm tác và treo trên vách. Đây không những là nơi tụ hội của những người mê chè mà còn là nơi của nhưng tâm hồn yêu thơ gặp nhau. Trong tiệm có 1 bài thơ do thực khách đề tặng chủ quán như một lời cảm mến đến thương hiệu gắn bó với nhiều thế hệ này:

“Ở đời hữu xạ tự nhiên hương
Ba thế hệ rồi khách vẫn thương
Á Âu đi về tìm bảng hiệu
Bắc Nam qua lại nhớ tên đường”

Anh Văn Minh Hồng, 57 tuổi, từ California (Mỹ) về, cưỡi xe máy tìm đến tiệm chè Hiển Khánh xem có thay đổi gì không. Theo thói quen ngày trước, vào tiệm, anh gọi ngay chén thạch trắng rồi ngồi đảo mắt nhìn quanh quán như tìm lại ký ức. Anh nói với chị Nguyệt Minh: “Thơ vẫn treo trên tường, những bộ bàn ghế cũ, thấp vẫn nguyên vẹn” như khen chủ nhân đã giữ gìn cẩn thận những hình ảnh thân quen ấy suốt 40 – 50 năm nay.

Cũng chừng ấy thời gian, chủ tiệm này không hề nhượng quyền thương hiệu cho ai, cũng không có người ruột thịt nào mở tiệm ở nước ngoài nhưng bảng hiệu chè Hiển Khánh xuất hiện khá nhiều ở Mỹ. Còn tiệm chè Hiển Khánh anh đang ngồi có đến mười loại thạch khác nhau, bán thêm sâm bổ lượng, chè bạch quả, sữa chua, rau câu nhưng vẫn giữ đặc trưng: Chè Hà Nội không có nước cốt dừa như chè Nam Bộ, khi bưng lên cho khách luôn có chén đá bào kèm theo.

Thơ về bánh lá gai do ông Nguyễn Quý Quyền cảm tác
Thơ về bánh lá gai do ông Nguyễn Quý Quyền cảm tác. Ảnh: HonNgocVienDong.vn
Thơ về bánh phu thê do ông Nguyễn Quý Quyền cảm tác
Thơ về bánh phu thê do ông Nguyễn Quý Quyền cảm tác. Ảnh: HonNgocVienDong.vn
Thơ về chè đậu xanh do ông Trần Nghệ cảm tác
Thơ về chè đậu xanh do ông Trần Nghệ cảm tác. Ảnh: HonNgocVienDong.vn
Thơ về thạch trắng do ông Trần Nghệ cảm tác
Thơ về thạch trắng do ông Trần Nghệ cảm tác. Ảnh: HonNgocVienDong.vn
Bài thơ do thực khách yêu mến chè Hiển Khánh đề tặng
Bài thơ do thực khách yêu mến chè Hiển Khánh đề tặng. Ảnh: HonNgocVienDong.vn

Tổng hợp từ Đất Việt và HonNgocVienDong.vn

Bánh mì Hòa Mã

Quán bánh mì Hòa Mã khi xưa. Ảnh: báo Đất Việt

Gần ngã tư Cao Thắng – Nguyễn Đình Chiểu có một tiệm bán bánh mì nhỏ với bảng hiệu cũ kỹ, phai màu theo năm tháng. Bánh mì Hòa Mã đã tồn tại 50 năm kể từ ngày thành lập. Nhiều người khẳng định chủ nhân ở đây là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn.

Bà Nguyễn Thị Dậu, chủ nhân của hiệu bánh mì Như Lan hiện nay, cho biết ngày xưa bà rất mê bánh mì Hòa Mã. Lúc nhỏ, bà thường đến mua bánh mì ở đây và ước ao ngày nào đó mình cũng có một cửa hàng bán bánh mì như ý thích.

Sài Gòn từ trước năm 1958 đã có những cửa hiệu bán bánh của người Pháp. Họ bán bánh ngọt, bánh mì theo gu Pháp để phục vụ chủ yếu dân Tây. Bánh mì Tây là loại đặc ruột, tùy hình dáng mà được gọi tên (bánh mì gối là do tròn lớn như cái gối…). Và thịt nguội được bán riêng theo nhu cầu của người mua.

Năm 1954, vợ chồng ông Lê Minh Ngọc và bà Nguyễn Thị Tịnh di cư vào Nam. Trước đó, bà Tịnh đã làm cho hãng thịt nguội chuyên cung cấp sản phẩm cho các nhà hàng Pháp ở Hà Nội. Khi vào Sài Gòn, hai ông bà đã có sẵn ý tưởng mở cửa hàng bán bánh mì, thịt nguội để cung cấp cho người Việt trong khu vực. Thế là năm 1958, cửa hàng bánh mì thịt nguội mang tên Hòa Mã (tên một làng ở ngoại ô Hà Nội) tại số 511 Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu, Q.3). Sau đó hai năm, tiệm dời về số 53 Cao Thắng cho đến nay.

Ban đầu, tiệm cũng bán bánh mì riêng, thịt nguội riêng, ăn tại chỗ hoặc mang về. Nhưng người mua thường là công chức, thợ thuyền, sinh viên, học sinh không có nhiều thời gian vào buổi sáng để nhẩn nha ngồi ăn ở tiệm. Thế là Hòa Mã làm ổ bánh mì vừa đủ cho suất ăn sáng dài hơn gang tay, nhét thịt, chả lụa, pa-tê vào giữa để người mua tiện mang theo vào nơi làm việc, lớp học.

Lúc đó, tiệm Hòa Mã gọi một ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, có lẽ dùng theo từ Pháp casse-croûte, tức bữa ăn lót dạ, bữa ăn qua loa (thật ra, tên gọi đúng của bánh mì kẹp thịt là sandwich). Giá bán một ổ là 3 – 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 – 10 đồng.

Ngày xưa, các vị công chức ở vùng Bàn Cờ, cư xá Đô Thành rất thích ăn bánh mì Hòa Mã. Bà Tịnh vốn xuất thân làm thịt nguội cho hãng Tây nên vẫn giữ gu Pháp cho bánh mì Hòa Mã suốt 50 năm. Không ít người ở nước ngoài về thăm quê hương thường ghé lại Hòa Mã để thưởng thức hương vị bánh mì thịt không thể nào quên.

Từ ngày mở tiệm bánh mì Hòa Mã vào năm 1960, đến nay, cụ Nguyễn Thị Tịnh vẫn còn cùng con cháu đứng bán bánh mì. Ảnh: báo Đất Việt

Ngày nay khi có dịp ghé ngang số 53 Cao Thắng, bạn sẽ thấy tiệm vẫn còn giữ nguyên bảng hiệu ngày xưa khi tiệm dời về đây vào ngày 1-12-1960, bảng hiệu phai mờ theo thời gian và không còn nhìn rõ chữ nữa. Cụ Tịnh vẫn còn đứng bán bánh mì cùng con cháu. Bên trong vẫn còn kê vài chiếc bàn cùng những dĩa thịt nguội cho thực khách ăn tại chỗ.

Tổng hợp từ Tuổi Trẻ và Đất Việt

Đường NGUYỄN THỊ MINH KHAI

Từ cầu Thị Nghè đến công trường Cộng Hòa,

Vị trí : Đường nằm trên địa bàn quận 1, các phường 8, 6, 5, 2 quận 3, từ cầu Thị Nghè đến công trường Cộng Hòa, dài khoảng 3964 mét, qua các ngã tư Hai Bà Trưng, Phạm Ngọc Thạch, Pasteur, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, các ngã ba Lê Quý Đôn, Huyền Trân Công Chúa, Trương Định, Bà Huyện Thanh Quan, ngã tư CMT8, các ngã ba Tôn Thất Tùng, Nguyễn Thượng Hiền, Lương Hữu Khánh, Cống Quỳnh, Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật,

Lịch sử : Thời nhà Nguyễn đường này mang tên là đường Thiên Lý phía Nam, người Pháp đổi tên là Stratégique. Sau khi có bản đồ qui hoạch ghi số 25. Ngày 1 tháng 2 năm 1865 đặt tên là Chasseloup Laubat. Ngày 22 tháng 3 năm 1955 đổi là đường Hồng Thập Tự (vì trên đường có trụ sở Hội Hồng Thập Tự). Ngày 14 tháng 8 năm 1975 nhập với đường Hùng Vương ở Thị Nghè và Quốc lộ 13 ở Hàng Xanh làm một và đặt là Xô Viết Nghệ Tĩnh. Nhân dịp Quốc khánh 1991 UBND Thành phố cắt đoạn hiện nay thành đường riêng và đặt tên là đường Nguyễn Thị Minh Khai.