Người sửa giày sau lưng chợ Bến Thành

Những hàng giày nổi tiếng trên con đường Lê Thánh Tôn chạy sau lưng chợ Bến Thành xưa kia dần mai một. Những người thợ sửa giày ngồi rải rác ở khu vực này cũng ngày một hiếm.

Người sửa giày sau lưng chợ Bến Thành
Ông Tạ Hữu Ngọc (trái) và ông Tạ Văn Hiếu bên hàng sửa giày. Ảnh: Đ.T

May mắn thay tôi vẫn còn gặp được hai anh em người thợ sửa giày đang làm đều qua tuổi 60 với hơn 30 năm cặm cụi bên bộ đồ nghề đơn sơ gồm vài ba cây kim dùi, lọ keo, dao cắt, búa, đục… Góc đường Lê Thánh Tôn – Phan Bội Châu bao năm qua không ngày nào vắng bóng hai ông Tạ Văn Hiếu (66 tuổi) và Tạ Hữu Ngọc (62 tuổi). Khách hàng của họ không chỉ là người quanh vùng mà có cả từ nam chí bắc, thậm chí rất nhiều người nước ngoài.

Gia đình ông Hiếu và Ngọc là dân Sài Gòn gốc. “Anh em tôi sinh ra, lớn lên tận Q.6 thời Pháp nay đổi là Q.4. Tuổi thơ của tôi ở đất này là quãng thời gian đẹp nhất. Đó là những ngày tháng tôi học trường Võ Trường Toản. Ngày đó, nhà nghèo không tiền mua xe đạp đi học, tôi cứ canh nhảy lên bàn đạp phía sau xe thổ mộ ở cầu Ông Lãnh để đến trường. Hôm nào bị người đánh xe ngựa phát hiện, tôi đành đi bộ”, ông Ngọc kể.

Cạnh bên ông Ngọc là hàng sửa giày của anh ruột Tạ Văn Hiếu. Càng bất ngờ hơn khi biết hai ông còn một người em ruột – Phan Văn Ngà nay cũng bước sang tuổi 60 hiện cũng làm nghề sửa giày ở chợ Cây Quéo, Q.Bình Thạnh. Thắc mắc vì sao anh em ruột mà không cùng họ, ông Ngọc cười giải thích do ngày xưa, lúc làm giấy khai sinh nhân viên hành chính quận lúc đó nhũng nhiễu quá, công khai đòi hối lộ, cha ông không có tiền đành đưa người con út về Cần Thơ cùng vợ rồi làm khai sinh mang họ mẹ ở đó với phần khai cha vô danh.

Ba anh em thợ sửa giày cũng như bao thanh niên khác thời chiến ở Sài Gòn, phải đi quân dịch. Kết thúc chiến tranh cũng là thời điểm họ trở về với cuộc sống với hai bàn tay trắng, không nghề nghiệp. “May nhờ lúc đó đường Lê Thánh Tôn này có duy nhất một ông thợ sửa giày già mà sau này thế hệ chúng tôi gọi bằng “ông tổ” thương con rể là tôi, truyền cho nghề này”, ông Hiếu cho biết. Thạo nghề, ông Hiếu dạy cho ông Ngọc và ông Ngà để cùng tìm cơ hội mưu sinh. Đến nay, học trò ông Hiếu dạy nghề sửa giày lên đến vài chục người.

Bàn tay già nua, nhăn nheo vì tuổi tác của hai anh em ông Hiếu và Ngọc bỗng trở nên linh hoạt lạ kỳ khi cầm đôi giày trên tay. Họ cắt gọt, dùi kim, lòn chỉ nhanh nhẹn đến không ngờ, chẳng mấy chốc một đôi giày ngỡ đâu vứt đi trở nên chắc chắn, bóng loáng như mới. “Khách đến đây không hẳn họ tiếc tiền, không dám mua giày mới mà có người giàu lắm nhưng muốn lưu giữ đôi giày kỷ niệm, ghi dấu một đoạn đời của họ nên mới mang sửa”, ông Ngọc tiếp lời.

Sống và làm việc hơn 30 năm dài trên lề đường Lê Thánh Tôn, với ông Ngọc là quãng đời quá dài, gần nửa đời người. “Ngày nào không ra đây, tôi nhớ lắm. Sài Gòn trong tôi thật giản dị. Đó là những con người quen biết ở đây, là khách hàng thân thuộc bao năm qua mà chỉ cần đưa đôi giày cũ tôi biết họ muốn sửa chỗ nào. Mưa to gió lớn tôi cũng ngồi đây, chỉ hôm nào bệnh nặng lắm đi không nổi mới đành nằm nhà”, ông Ngọc tâm sự.

Mối ruột có cả khách nước ngoài

“Vô số khách nước ngoài là mối “ruột” của tôi. Như vợ chồng ông bà người Singapore cứ mỗi lần qua Việt Nam là gom hết giày dép đến đây sửa bởi bên xứ họ không ai làm nghề này mà nếu có thì công rất đắt, có khi gần bằng mua đôi giày mới. Khách từ ngạc nhiên rồi trở thành bạn vì tôi có thể nói được tiếng Anh lẫn Pháp. Cái nón này của khách Pháp tặng, đồng hồ là bạn Nhật cho còn chiếc áo tôi đang mặc do vợ chồng người Úc biếu dịp Noel 2010”, ông Ngọc ôn tồn khoe.

“Thành phố ngày càng văn minh, tiến bộ, chắc chắn lề đường phải bỏ dần những người sống bám trụ bằng cái nghề như chúng tôi. Lúc đó nếu còn sức tôi vẫn làm nhưng chỉ ra đây nhận giày để mang về nhà sửa rồi hẹn giờ giao cho khách, hoặc có thể làm việc qua mạng internet để nhận và sửa giày. Còn sống tôi còn làm nghề này. Không phải vì miếng cơm manh áo nữa mà vì niềm vui. Tuổi già, sống với con cháu, còn được làm nghề mình yêu thích thì còn gì bằng?”, ông Hiếu thổ lộ.

Rít hơi thuốc thật sâu, nhìn đường phố tấp nập người xe qua lại, ông Ngọc nói giọng thật trầm: “Nhìn lại cuộc đời mình, tôi không hề tiếc nuối hay buồn tủi vì đã chọn cái nghề tay chân này bởi nhờ nó tôi đã nuôi sống vợ con mấy mươi năm qua, giúp con cái trưởng thành, nên người. Giờ đứa làm cán bộ phường, đứa làm giám đốc công ty cho thuê tài chính quốc tế. Một con trai hiện theo nghề của tôi. Còn thằng út thì sang Úc làm việc. Với tôi làm nghề gì không quan trọng bằng việc mình để hết tâm sức vào đó”.

Đỗ Tuấn (báo Thanh Niên)

Người bán xôi qua 6 thập niên

Bà ngồi đó, bền bỉ suốt gần 60 năm với gánh xôi, mặc cho bao đổi thay của cuộc sống.

Quê tận Hải Phòng, di cư vào nam năm 1954, bà Nguyễn Thị Kiệm nay đã bước sang tuổi 81 và vẫn ra góc đường Lê Thánh Tôn – Pasteur ngồi bán xôi từ tinh mơ. Góc đường đông xe cộ vào giờ đi làm, chốc chốc lại có người ghé vào mua vội gói xôi bắp để kịp giờ đến nơi làm việc.

Bà Nguyễn Thị Kiệm
Tôi chỉ sống bằng nghề bán xôi giản dị đâu ngờ được nhiều người quan tâm quá. Nghĩ lại cũng thấy vui. Có lẽ do mình tận tụy với công việc, hết lòng với nó nên mọi người trân trọng chăng?

Bà Kiệm, chậm rãi rọc từng chiếc lá chuối, ép thẳng thớm bằng đôi bàn tay già nua, nhăn nheo vì tuổi tác. Người con gái thứ năm, không chồng con, sống với bà tại ngôi nhà trong con hẻm nhỏ tận đường Lê Văn Sỹ, Q.3 sáng sáng phụ bà bán từng gói xôi nhỏ.

“14 tuổi tôi đã mồ côi. 23 tuổi một thân một mình từ bắc vào nam không đồng xu dính túi. Đất Sài Gòn đón tôi bằng duy nhất một cơ hội: kiếm sống với nghề nấu xôi bắc do gia đình truyền lại”, bà Kiệm nói bằng giọng chậm rãi.

Chồng bà, nay đã 84 tuổi vẫn còn sống, trước là thợ hồ, cùng bà nuôi 11 người con. “Năm 1954 cũng là thời điểm tôi lập gia đình, sinh con trai đầu lòng. Tôi chỉ buồn là làm cha làm mẹ mà không cho con được một tuổi thơ đẹp đẽ. Ngày đó, nghèo quá, đứa con trai đầu phải phụ mẹ ẵm em, đi chợ, nấu ăn, làm tất tần tật công việc của một người phụ nữ. Rồi đứa lớn cứ thế trông đứa nhỏ. Nay cháu nội tôi đã 30 tuổi, tôi cũng có chắt rồi”, bà kể.

Gánh xôi bắp hiếm hoi giữa Sài Gòn

Để có gánh xôi nóng thơm ngậy mùi đậu xanh, hành phi, bà phải thức dậy từ 2 giờ sáng để nấu. Gánh xôi của bà có 2 loại: xôi bắp bắc và xôi vò. Nấu được nồi xôi bắp, bà cho biết phải qua nhiều công đoạn. Bà mua trữ nguyên liệu mỗi lần cả tấn để dành phòng khi khan hiếm. Bắp khô ngâm nước nấu qua ba lần lửa. “Phải hầm thật lâu bắp mới nở hết và mềm. Thấy vậy chứ nấu một nồi bắp không hề đơn giản, vì dễ bị chai cứng. Đậu xanh ngâm nước, đãi vỏ, hấp chín rồi cho vô cối giã nhuyễn. Còn hành phi cũng tự tay tôi làm suốt 60 năm qua. Ngày xưa tôi dùng dầu ô liu phi hành nhưng giờ đắt quá nên đổi qua dầu đậu nành”, bà tiết lộ.

Để có hương vị đặc trưng của món xôi bắp bắc, bà buộc phải gói bằng lá chuối xanh. Lá chuối giờ vẫn đặt mua tận Bà Điểm, Hóc Môn nhưng ngày càng hiếm. Ngày xưa bà dùng lá dứa gai làm muỗng múc xôi bán cho cho khách, nay cây đó không còn ai trồng nữa nên đành thay bằng muỗng nhựa.

Những ngày giáp tết cổ truyền, bà Kiệm còn gói thêm bánh chưng để bán. Tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch) bà làm thêm món cơm rượu bán với xôi vò. Khách đến gánh xôi của bà đa số là người quen, sinh viên, học sinh, công chức, đủ mọi thành phần. Bất kể mưa nắng, sáng nào người dân Sài Gòn đi ngang đây đều thấy bà ngồi với gánh xôi nghi ngút khói. “Ngày xưa lúc mới bán, lại còn trẻ, tôi đội thúng xôi trên đầu đi bộ từ cầu Trương Minh Giảng (nay là Lê Văn Sỹ) sang tận đây. Sau vì tuổi cao, nên tôi đi xe buýt đến tận bây giờ. Đời mình đã khổ, thôi còn sức thì ráng làm, được đồng nào hay đồng đó, lo cho con cho cháu”, bà Kiệm cười khoe hàm răng đen bóng.

Người bán xôi qua 6 thập niên

Bà Nguyễn Thị Kiệm bán xôi
Bà Kiệm bên gánh xôi ở góc đường Lê Thánh Tôn – Pasteur (TP.HCM). Ảnh: Đ.T

“Thế sao bà không bán gần nhà cho tiện hay tìm góc phố khác đông người để bán nhiều xôi hơn?”, tôi hỏi. “60 năm ngồi đâu quen đó rồi chú ơi! Xa chỗ này tôi chịu không được. Bao nhiêu năm dù chỉ là người buôn gánh bán bưng, tôi đã chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng của thành phố. Những tháng năm dân chúng Sài Gòn biểu tình chống chế độ ông Thiệu cũng đến đây mua xôi của tôi. Rồi ngày giải phóng mấy chú bộ đội tiếp quản thành phố, đóng quân bên kia đường, quý tôi lắm, sáng nào cũng chạy sang đây ăn gói xôi bắp bắc cho đỡ nhớ nhà”. Cuộn phim đời mãi chạy trong ký ức người phụ nữ có gần 60 năm dài sinh sống tại thành phố này như một chứng nhân sống của lịch sử.

Nhiều phóng viên báo nước ngoài tìm gặp bà, xin phỏng vấn rồi ghi hình. “Tôi chẳng biết là báo nào vì có rành tiếng Tây tiếng u gì đâu, nhưng thấy họ quý mình nên cũng vui”. Ngôi nhà cũ kỹ ọp ẹp của bà rộn vang tiếng cười khi đón tiếp những nhà báo đó. “Tôi chỉ sống bằng nghề bán xôi giản dị đâu ngờ được nhiều người quan tâm quá. Nghĩ lại cũng thấy vui. Có lẽ do mình tận tụy với công việc, hết lòng với nó nên mọi người trân trọng chăng?”, bà nói, giọng nhẹ bâng giữa dòng xe cộ đông đúc ngược xuôi ở Sài Gòn.

Đỗ Tuấn (báo Thanh Niên)

70 năm một hàng chè

Chỉ là một hàng chè như hàng trăm hàng ngàn hàng chè khác ở Sài Gòn, nhưng với tôi nơi đây chứa đầy ký ức của tuổi thơ, ngày tôi và thằng em cười vang mỗi khi được ba mẹ đạp xe chở xuống khu Chợ Lớn nhấm nháp món khoái khẩu.

Ký ức xa xưa

Nếu gia đình bạn từng thưởng thức món ngon nào trải qua 4 thế hệ, ắt hẳn bạn không thể quên. Mấy mươi năm trước, ông bà nội từng dắt ba tôi đến ăn chè vào những ngày hè oi ả. Nay tôi tiếp tục dẫn con mình đến đây.

Hàng chè nằm lọt thỏm trong khoảnh sân nhỏ trước trạm biến áp cũ kỹ trên đường Trần Hưng Đạo B, TP.HCM, đoạn qua ngã tư Châu Văn Liêm gần đến chợ vải Soái Kình Lâm, được người dân quanh đây gọi bằng cái tên thân mật: Quán chè nhà đèn.

Chị Lý Thanh Hà là cháu gọi người tạo ra hàng chè này từ những năm 30 thế kỷ trước là cụ cố. Qua lời kể của mẹ và bà ngoại, chị Hà kết nối lại câu chuyện của dòng họ. Năm 1936, bà Phùng Hạnh Phan hồi ấy là cô gái tuổi đôi mươi, quá hoảng sợ trước cảnh khủng khiếp mà chiến tranh gây ra tại ngôi làng quê hương tận Quảng Đông (Trung Quốc), đã quyết định cùng hai người bạn gái trốn đi sau khi cả gia đình bị giặc giết. Đơn thân, lại là gái nhưng bà Phan vẫn chấp nhận xa xứ vì không còn lựa chọn nào khác. Bà nhận một bé gái mới vài tháng tuổi làm con nuôi, đặt tên Lý Ái Quỳnh. Sau nhiều lần đắn đo, bà quyết định ẵm con sang Việt Nam lánh nạn.

Chị Lý Thanh Hà bên xe chè của gia đình - Ảnh: Đ.T
Chị Lý Thanh Hà bên xe chè của gia đình – Ảnh: Đ.T

Không tiền, không nghề nghiệp, bà lặn lội đến Hà Nội rồi Hải Phòng bằng đường bộ, làm đủ mọi cách để sinh nhai trên đôi chân trần và hai bàn tay trắng. Tuy nhiên, môi trường sống khó khăn nên bà Phan và hai người bạn gái nghe theo lời nhiều người mách bảo, tìm đường vào Sài Gòn lập nghiệp. Dồn hết những đồng tiền cuối cùng, nhóm bà Phan lên tàu thủy ở Hải Phòng xuôi vào nam. Đến Sài Gòn, đất lạ quê người, cuộc sống cũng chẳng khá hơn. Giấc ngủ đến với bà cứ chập chờn đầy ác mộng kinh hoàng về chiến tranh, chết chóc và cả những ngày đen tối trước mắt.

Cái đói bắt đầu hoành hành, lại phải ở lề đường, đôi lúc bà không còn thiết sống. Năm 1938, khi mà mọi nguồn sống gần như bế tắc, bà Phan nấu đại một nồi chè đậu xanh ngồi ở góc đường Tổng Đốc Phương (nay là Châu Văn Liêm) – Nguyễn Trãi bán cho khách hàng trong khu phố. Món chè của bà nhanh chóng được mọi người gần xa ưa thích và tìm đến. Có chút tiền, bà mướn tạm căn phòng nhỏ trên lầu một khu chung cư kế bên trạm biến thế để tá túc. Dần dà bà sắm được xe chè. Hằng đêm, khi thành phố tĩnh lặng, bà lặng lẽ đẩy xe về cất tại sân phía trước trạm.

Nhưng chuyện mưu sinh không hề đơn giản. Chính quyền Pháp truy quét nạn buôn bán trên lề đường. Thấy khoảnh sân trước trạm biến áp còn trống, bà Phan đành “xí” đại, lòng cứ thầm cầu nguyện chính quyền ngó lơ. Hơn 70 năm sau, hàng chè này vẫn ở vị trí cũ, với xe chè bà Phan đã dành dụm mua từ ngày đầu lập nghiệp, giờ thành “đồ cổ”…

Hàng chè bốn thế hệ

Hàng chè bà Phan có nhiều món nấu khá lạ. Cũng là sâm bổ lượng, hạnh nhơn, chè đậu xanh, đậu đỏ, hột gà chưng (như một loại bánh flan), hột gà nấu trà đường, chè hạt sen, đậu phộng, chè mè đen, nhãn nhục, bạch quả, củ năng… nhưng hương vị rất đặc trưng.

Những ngày cuối tháng 4.1975, quán chè vẫn phục vụ khách, không nghỉ hôm nào dù thành phố vừa được giải phóng. “Mẹ tôi kể lại lúc đó, làm gì có nguyên liệu để nấu chè, phải mua đường tán hay đường thùng đen kịt về nấu mà còn khó kiếm. Mẹ phải đạp xe đến tận Xa cảng Miền Tây để nhờ bạn hàng quen mua nguyên liệu từ các tỉnh nhưng lúc có lúc không. Tết Mậu Thân 1968, bà ngoại buộc phải nghỉ bán vì chiến tranh ác liệt quá. Chiến sự lan đến tận từng ngôi nhà, khu phố, dân chúng sơ tán khắp nơi, ai mà còn thiết tha đến chuyện ăn chè. Sau khi tình hình yên ắng trở lại mới tiếp tục công việc”, chị Lý Thanh Hà kể.

Bà Phan già yếu rồi qua đời. Bà để hàng chè lại cho con cả của bà Lý Ái Quỳnh là Lý Tô Hà tiếp tục đứng bán. Đó là thập niên 80-90 thế kỷ trước. Nay bà Lý Tô Hà cũng đã lớn tuổi, lại bị bệnh tim, không thể tiếp tục công việc nên giao lại cho người con gái rồi tiếp tục đến cháu. Các cô được mẹ, bà truyền lại bí quyết của nghề nên vẫn giữ được hương vị truyền thống của hàng chè năm xưa. “Gia đình tôi bốn đời bán chè. Nơi đây đã trở thành “nhà”, quá thân quen với dòng họ dù chỉ là một cái sân nhỏ xíu. Gia đình chúng tôi sống lương thiện bằng hàng chè này. Nó nuôi sống nhiều thế hệ”, chị Thanh Hà nói.

Năm tháng qua đi… Cuộc sống thay đổi nhưng vẫn còn đó một hàng chè, như thách thức với thời gian khắc nghiệt. Cũng như tôi, nhiều khách đến đây ăn chè từ ngày bé tí đến lúc trưởng thành rồi sinh con đẻ cái. Hàng chè không còn là điểm bán thức ăn mà trở thành nơi dung chứa ký ức. Ngồi đây ăn chè, nhìn các con tôi chợt nhớ đến ba mẹ, ông bà mình. Và tôi nhận ra rằng một hàng chè sẽ trở thành bất tử nếu nó gắn chặt với cuộc đời của mỗi người.

Đỗ Tuấn (báo Thanh Niên)

Trường nữ Trung học Lê Văn Duyệt

Trường nữ trung học Lê Văn Duyệt nay là trường trung học phổ thông Võ Thị Sáu – 95, Đinh Tiên Hoàng, P3, Q. Bình Tạhnh, Tp. HCM. Đây được xem là một trong những trường trung học phổ thông có chất lượng giáo dục tốt hiện nay.

Trường nữ trung học Lê Văn Duyệt
Trường nữ trung học Lê Văn Duyệt ở số 95 – Đại lộ Lê Văn Duyệt, Gia Định, nay là số 95 – Đinh Tiên Hoàng, Q. Bình Thạnh.

Lịch sử

Thời Việt Nam Cộng hòa

– Năm 1957: trường được thành lập, lúc ấy mang tên trường Trung học Trương Tấn Bửu tọa lạc trên đường Chi Lăng, gần Lăng Ông thuộc xã Bình Hòa tỉnh Gia Định, nơi thờ phượng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, nằm trong khuôn viên của trường Tiểu học Nam tỉnh lỵ, nay là trường THCS Lê Văn Tám. Ban đầu trường có 3 lớp đệ thất gồm lớp nam và lớp nữ.

– Năm 1959: trường vẫn nằm tại vị trí trên nhưng tách nam sinh ra học tại trường Hồ Ngọc Cẩn nay là trường Nguyễn Đình Chiểu, còn nữ sinh có 6 lớp vẫn học tại trường.

– Năm 1960: tòa tỉnh trưởng Gia Định đã cấp cho môt khu đất để xây trường, trên một diện tích rộng lớn, vốn là đầm rau muống, trường được xây dựng mới, dời về số 95, đại lộ Lê Văn Duyệt, GIa Định, nay là đường Đinh Tiên Hoàng và đổi tên thành trường Nữ Trung học Lê Văn Duyệt, vừa có cấp II và cấp III, với đồng phục áo trắng.

– Năm 1963: vì trường chưa có lớp đệ nhất nên học sinh sau khi học lớp đệ nhị phải chuyển qua trường Trưng Vương để học đệ nhất.

– Vài năm sau 1963: thì trường đã có lớp đệ nhất và học sinh không còn phải từ giã trường của mình sớm một năm để qua trường Trưng Vương học lớp đệ nhất nữa.

Nữ sinh Lê Văn Duyệt năm 1970
Nữ sinh Lê Văn Duyệt năm 1970
Liên hoan lớp khoá 68, trường Lê Văn Duyệt
Liên hoan lớp khoá 68, trường Lê Văn Duyệt

* Những hiệu trưởng đầu tiên từ khi trường mới thành lập đến năm 1977:

– Hiệu trưởng đầu tiên là thầy Lê Ngọc Toản. Lớp nam sinh sau đó đã dược chuyển về Hồ Ngọc Cẩn.

– Năm 1959 – 1960: cô Bùi Thị Lắm đã trở thành vị Hiệu trưởng thứ nhì, đã đích thân khánh thành ngôi trường khi trường được dời qua vị trí mới

– Từ cuối tháng 11 năm 1963 đến đầu năm 1964: Giáo sư Phạm Thị Diệu Linh rồi sau đó cô được điều về trường Trưng Vương làm Giám Học.

– Vị Hiệu trưởng kế tiếp là cô Nguyễn Ngọc Hương

– Năm 1977: Trần Hoàng Mai đã trở thành vị Hiệu trưởng cuối cùng.

Sau năm 1975

– Năm 1975: trường được đổi tên thành trường cấp III Võ Thị Sáu.

– Năm học 1978 – 1979: trường giải thể cấp II, thu nhận cả nam sinh và nữ sinh, trở thành trường Trung học Phổ thông Võ Thị Sáu.

– Từ 1975 – 1999: trường có 16 phòng học, một số phòng chức năng, lúc nhiều học sinh nhất có 37 lớp cả 3 khối.

(Tổng hợp)

Bánh cuốn Tây Hồ

Bà Trần Thị Cà
Lễ mừng thọ 75 tuổi của bà Trần Thị Cà. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Thương hiệu bánh cuốn Tây Hồ đã được thành lập từ năm 1961 bởi cụ bà Trần Thị Cà  (1919 – 1996). Bí quyết món ăn đã được truyền từ những công thức đặc biệt của gia đình.

Hàng bánh cuốn này thật ra không có tên, người ta gọi như thế là vì lúc mới ra hàng này đặt cơ sở trong sân đền thờ cụ Tây Hồ Phan Châu Trinh bên cạnh chợ Đakao.  Sau này, khách tới ăn nói cho gọn lại là bánh cuốn Tây Hồ.

Sau 1975, cửa hàng dời ra một căn phố nhỏ đường Đinh Tiên Hoàng, gần ngã ba với đường Huỳnh Khương Ninh.  Bánh cuốn Tây Hồ ngon nhờ cuốn ăn liền tại chỗ, bột rất mỏng, nhưng ngon vì làm bằng thịt heo tươi, trộn nấm mèo và củ hành xắc nhuyễn, nước mắm chanh pha rất loãng nhưng vừa miệng nên có thể chan nhiều. Nơi đây có bán tinh dầu cà cuống. Tinh dầu cà cuống nhẹ hơn nước, cho thoảng ra một mùi đặc biệt gần giống như mùi quế. Khi ăn chỉ cần nhỏ vài giọt tinh dầu vào nước mắm là sẽ có mùi đặc trưng của cà cuống ngay.

Cà cuống là một loại côn trùng nhìn giống con gián. Tại miền Nam trước 1975 cà cuống xuất hiện nhiều, dễ bắt nên tại Sài Gòn có nhiều nơi bán bánh cuốn, bánh ướt, bún có sử dụng kèm nước mắm cà cuống. Ngày nay, do quá trình đô thị hóa nên diện tích ao hồ thu hẹp lại, cà cuống cũng khó tìm như xưa. Cho nên tinh dầu cà cuống cũng khá mắc và ít nơi sử dụng.

Hiện nay, khi đến ngã ba Huỳnh Khương Ninh và Đinh Tiên Hoàng sẽ bắt gặp 2 quán có cùng tên là bánh cuốn Tây Hồ nằm gần nhau. Quán bên trái là chính gốc ngày xưa của bà Cà, do cô Nhỏ quản lý. Quán bên phải là của cô Lớn – chị của cô Nhỏ – tách ra làm riêng. Quán của cô Nhỏ còn mở thêm chi nhánh ở đường Phan Xích Long và hiện nay kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương hiệu.

Bánh cuốn Tây Hồ
Bánh cuốn Tây Hồ (cô Nhỏ). Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Địa chỉ:

Bánh cuốn Tây Hồ (cô Nhỏ):

  • Chi nhánh 1: 127 Đinh Tiên Hoàng, phường Đa Kao, quận 1, Sài Gòn.
  • Chi nhánh 2: 271 ( Số cũ 51) Phan Xích Long, phường 2, quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

Bánh cuốn Tây Hồ (cô Lớn): 129 Đinh Tiên Hoàng, phường Đa Kao, quận 1, Sài Gòn.

(Tổng hợp)

Cà phê Thái Chi

Cà phê Thái Chi ngày nay
Cà phê Thái Chi ngày nay. Ảnh: Hòn Ngọc Viễn Đông

Cà phê Thái Chi ở khúc đầu đường Nguyễn Phi Khanh, phía sau rạp chiếu bóng Casino Ðakao (sau 1975 đổi thành rạp Cầu Bông và hiện nay không còn là rạp chiếu bóng nữa – HNVĐ). Quán cà phê Thái Chi là một căn nhà phố nhỏ bé, bàn ghế thấp trên nền nhà cao, tinh tươm sạch sẽ. Quán không biển hiệu, mọi người gọi tên quán bằng tên bà chủ quán: bà Thái Chi.

Những năm 1960-1970, tới uống cà phê Thái Chi đa số là khách quen: những công chức ngành phát thanh truyền hình, sĩ quan quân đội, văn nghệ sĩ … và đa số là người miền Bắc (dân Hà Nội cũ), gặp nhau mỗi sáng, uống một tách cà phê nóng để nói đủ thứ chuyện trên đời. Bà chủ quán Thái Chi, không rõ bao nhiêu tuổi (có ai hỏi tuổi phụ nữ bao giờ), đối đáp với bất cứ người khách nào, dù khách trọng tuổi, cũng xưng là “chị”.

Thời gian đầu chúng tôi tới quán cà phê Thái Chi, thường nghe bà chủ quán nhắc nhở khách uống cà phê đừng tựa đầu sát vách tường. Thì ra, bà Thái Chi không chịu được vách tường quán cà phê của bà hoen ố bởi những người khách chải tóc bằng dầu bóng.

Thời gian sau, không nghe bà chủ quán nhắc nhở khách như vậy nữa: ở vách tường, đã được dán lớp simili như dải ruy-băng chỗ khách thường tựa đầu. Bà pha chế cà phê phía sau một bức vách ngăn, mang ra cho khách. Ai nóng vội, loay hoay với cái phin để làm sao cho cà phê mau nhỏ giọt xuống cái tách, bà can thiệp liền. Khách uống cà phê Thái Chi mặc nhiên phải hiểu rằng, chỉ bắt đầu uống cà phê khi chính bàn tay bà chủ quán đã nhấc cái phin ra khỏi tách. Chúng tôi nhiều lần nghe bà cằn nhằn những người khách, dù lớn tuổi hay nhỏ tuổi hơn bà, khi những người khách ấy “vi phạm luật lệ” uống cà phê tại quán Thái Chi.

Cà phê Thái Chi không lúc nào vắng khách, có lẽ chính vì cái “tinh thần trách nhiệm” của chủ quán trước tách cà phê dành cho khách uống và cái tinh tươm sạch sẽ của quán. Chúng tôi và nhạc sĩ Anh Việt Thu, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, nhà thơ Phạm Lê Phan (cả ba người đều đã qua đời), sáng nào trước khi tới cơ quan làm việc (Phòng Văn Nghệ thuộc Cục Tâm Lý Chiến) đều ghé uống tách cà phê ở quán bà Thái Chi khó tính. Những ngày kỷ niệm lễ lạt gì đó, hầu như cả Phòng Văn Nghệ chúng tôi gặp nhau tại quán cà phê Thái Chi, trong đó gồm cả đại úy phó phòng và thiếu tá trưởng phòng, nhà thơ Tô Thùy Yên.

Bà Thái Chi đã mất trên 30 năm. Sau ngày 30 tháng 4, mấy người cháu của bà tiếp tục mở cửa quán. Quán vẫn giữ cách bày trí như xưa, vì bên trong nhà chỉ đặt được 4-5 cái bàn nhỏ nên giờ phải bày thêm ra cả vỉa hè. Tuy nhiên quán đã không còn không khí cũ nữa, nhất là không còn bà Thái Chi nhấc từng cái phin cà phê ra khỏi tách để khách uống. Và cũng không ai còn nhắc, nhớ: đây là quán cà phê của “bà chị” Thái Chi khó tính – từng được xem là một quán cà phê cá tính, đáng nhớ của Sài Gòn.

Tổng hợp từ 2 bài trên báo SGGPNgười Việt của tác giả Nguyễn Đạt

Thông tin thêm của HNVĐ: quán cà phê Thái Chi hiện nay nằm ở số 5 đường Nguyễn Phi Khanh, phường Đa Kao, quận 1. Quán chỉ bán cà phê vào buổi sáng. Buổi chiều tối là quán ốc cũng do những người cháu của bà Thái Chi đứng ra bán.

Trường Trung học Võ Trường Toản

Cổng trường Võ Trường Toản

Vài nét về trường trung học

Ai cũng biết cụ Võ Trường Toản là một cao sĩ miền Nam, là một ẩn nho không màng danh lợi, an bần lạc đạo và vui cùng việc dạy dỗ học trò trong số đó có Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh … nhưng lai lịch của trường Võ Trường Toản thì ít ai biết đến.

Khách nhàn du từ Văn Miếu trong Thảo Cầm Viên nhìn ra đường Nguyễn Bỉnh Khiêm hẳn thấy một dãy nhà ba tầng cao ngạo nghễ vươn lên khỏi đám cây xanh: đó là trường Trung học Võ Trường Toản.

Cách đây mười sáu năm, trường ra đời trong một trường hợp khá đặc biệt.

Địa điểm của trường Võ Trường Toản ngày nay, trước kia là của trường Sư phạm Việt Nam 1955, theo một quyết định của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, trường Sư phạm Nam Việt sẽ được bãi bỏ lần lần và cũng nhờ thế, trường Võ Trường Toản có điều kiện thuận tiện để thành lập, thế chỗ lần cho những lớp của trường Sư phạm Nam Việt mỗi năm mỗi bớt đi.

Trong niên khóa 1955-1956, trường Võ Trường Toản có ba lớp đệ thất. Học sinh không do nhà trường trực tiếp tuyển nhận mà là những thí sinh đậu kế tiếp trong kỳ thi tuyển vào Đệ thất trường Pétrus Ký khóa tháng 7 năm 1955.

Trường Võ Trường Toản được chính thức hóa do Nghị định số 62 NĐ/GD ngày 7-2-1956 của Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Tuy thế nhưng trong niên học 1955-1956 trường Võ Trường Toản vẫn còn phụ thuộc vào trường Sư phạm Nam Việt. Kể từ sau ngày 13-9-1956, trường Sư phạm Nam Việt được dời về trường Quốc gia Sư Phạm thì trường Võ Trường Toản mới hoạt động riêng biệt dưới sự điều khiển của một vị Hiệu trưởng và tuy là một trường Trung học, trường vẫn phải phụ trách thêm một Ban tiểu học gồm 5 lớp với 199 học sinh.

Trong mấy năm đầu, nhà trường đã gặp nhiều khó khăn: trường sở tương đối rộng rãi nhưng lại thiếu bàn ghế, thiếu dụng cụ, vật liệu, thiếu nhân viên văn phòng, giám thị (kể cả hiệu trưởng chỉ có 4 người trong niên khóa 1956-1957)

Nhưng sau đó trường đã phát triển rất nhanh về số lượng nhân viên và học sinh. Kể từ tháng 9 năm 1960, nhà trường được Bộ Quốc Gia Giáo Dục  mở 2 lớp Đệ nhất và năm 1961 được công nhận là một trường Trung học Đệ nhị cấp tại thủ đô. Hiện nay trường sở đã được mở rộng đến mức tối đa, gồm có 20 phòng học, một phòng thí nghiệm (thiết lập năm 1959) với nhiều dụng cụ tối tân để làm nơi học tập khoa học cho học sinh. Năm 1970, với sự giúp đỡ của Hội Phụ huynh học sinh, một thư viện đã được thành hình để giúp học sinh mở rộng thêm kiến thức. Cũng trong năm 1970 này, một câu lạc bộ, một quầy hàng Sinh tiếp vụ và một phòng hớt tóc giá hạ được thiết lập ngay trong trường nhằm giúp học sinh có nơi ăn uống, hớt tóc và mua sắm mọi vật dụng cần thiết với giá rẻ. Năm 1971, trường đã xây thêm phòng Sinh hoạt học đường để giúp các em học sinh có nơi hội họp, sinh hoạt văn nghệ, báo chí …

Số lớp học, số giáo sư và nhân viên cũng như học sinh tăng rất nhanh. Để có 1 ý niệm rõ rệt về sự phát triển vượt bậc của trường Võ Trường Toản, ta thử so sánh số lớp, số giáo sư và học sinh trong vòng 15 năm nay.

Cơ sở và tổ chức

[slideshow]

Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn

Trường Trung Học Phổ Thông Lê Quý Đôn là một trường trung học công lập xưa nhất Sài Gòn, được thành lập năm 1874, với tên gọi ban đầu Collège Chasseloup-Laubat.

Trường Collège Chasseloup-Laubat năm 1905. Ảnh: Internet
Trường Collège Chasseloup-Laubat năm 1905. Ảnh: Internet

Buổi đầu thành lập

Sau khi chiếm được toàn cõi Nam Kỳ, ngày 14 tháng 1 năm 1874, Thống đốc Nam Kỳ, Chuẩn Đô đốc (Contre-amiral) Pháp Jules François Emile Krantz (1821-1914) đã ký nghị định thành lập một ngôi trường trung học tại Sài Gòn nhằm phục vụ nhu cầu đào tạo con em những thực dân người Pháp tại Sài Gòn. Chương trình giảng dạy theo chính quốc, dạy từ tiểu học đến tú tài (chương trình Pháp). Trường sở được khởi công xây dựng ngay vào năm 1874 và hoàn tất vào năm 1877.

Lúc đầu trường có tên Collège Indigène, có nghĩa là trung học bản xứ. Bấy giờ trường chưa có tên chính thức nên gọi bằng tên này, còn người dân gọi là trường Khải Tường vì nằm trong khu đất của chùa Khải Tường cũ. Không lâu sau, cái tên Collège Chasseloup-Laubat được dùng thay thế tên cũ là vì tên này đặt theo tên của ông Francois Marquis de Chasseloup-Laubat (1754-1833), là Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại (Bộ Thuộc địa) thời điểm ấy. Mặc dù là một trường dành cho người có quốc tịch Pháp nhưng trường còn có tên là Bổn Quốc Sài Gòn, khác với các trường bản xứ khác.

Trường dành cho học sinh người Pháp và bản xứ có quốc tịch Pháp Ảnh: Internet
Trường dành cho học sinh người Pháp và bản xứ có quốc tịch Pháp
Ảnh: Internet

Cũng như mục đích thành lập trường là để phục vụ nhu cầu đào tạo con em của thực dân Pháp, thời gian đầu đi vào hoạt động, trường chỉ nhận học sinh người Pháp. Việc mở rộng nhận học sinh người Việt vào đầu thế kỷ 20. Nói là học sinh Việt nhưng phải có quốc tịch Pháp mới được vào học. Lúc bấy giờ trường cũng được chia làm hai khu riêng biệt nhưng đều học chung chương trình Pháp và thi tú tài Pháp: khu dành cho học sinh Pháp (còn gọi là Quartier Européen) và khu dành cho học trò Việt là Quartier indigène (khu bản xứ). Học sinh Việt được học tiếng Việt.

Buổi sinh hoạt của học sinh trong sân trường. Ảnh: Internet
Buổi sinh hoạt của học sinh trong sân trường. Ảnh: Internet

Hoạt động yêu nước

Vào năm 1926, những học sinh người Việt đã viết lên bảng 4 chữ A.B.L.F, viết tắt câu “A bas les Français” (nghĩa là “Đả đảo thực dân Pháp”) trong một lần bãi khoá để tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh.

Phân hiệu Collège de Cochinchine

Ngày 28 tháng 11 năm 1927, Toàn quyền Đông Dương G. Gal ra một nghị định thiết lập tại Chợ Quán một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat dành cho học sinh người bản xứ lấy tên là Collège de Cochinchine. Phân hiệu này được đặt dưới sự điều hành của Ban Giám đốc Trường Chasseloup Laubat và môt giáo sư phụ trách tổng giám thị của phân hiệu.

Ngày 11 tháng 8 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương tạm quyền René Robert ký nghị định số 3116 gồm 6 điều, thành lập tại Chợ Quán, kể từ kỳ tựu trường 1928-1929 một trường Cao đẳng Tiểu học Pháp bản xứ, chuyển giao phân hiệu tạm thời với trên 200 học sinh của Collège Chasseloup Laubat nói trên vào trường này, có sát nhập một hệ Trung học Đệ nhị cấp bản xứ (Lycée) để thành lập một trường mới, về sau có tên là Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký, hay trường Petrus Ký.

Thời VNCH

Sau năm 1954, với dụng ý tránh gợi nhớ thời thuộc địa, trường được đổi tên là trường Jean Jacques Rousseau (tên một nhà trí thức Pháp trong phong trào “Ánh Sáng” thế kỷ XVIII) dạy chủ yếu là học sinh người Việt, nhưng vẫn do người Pháp quản lý. Đến 1967, trường được trả lại cho Việt Nam và trở thành Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Sau 1975, trường Lê Quý Đôn vẫn được giữ tên như cũ.

Kiến trúc

Khuôn viên
1. Cổng chính vào sân trường – 2. Lối đi bộ – 3. Lối đi cho xe đạp và xe máy – 4. Văn phòng hiệu trưởng – 5. Sân các lớp tiểu học
Hình ảnh được chụp lại từ Google Earth và chú thích theo Georges Nguyen Cao Duc, thành viên Hội Ái hữu cựu học sinh trường Lê Quý Đôn) tại Pháp.

Trải qua hơn một thế kỷ, kiến trúc ban đầu của ngôi trường vẫn còn gân như nguyên vẹn, gồm bốn dãy nhà cao hai tầng ghép lại có hình chữ “khẩu”. Với lối kiến trúc mang đậm chất Tây Âu, trường sở được xem như một kiến trúc cổ có lịch sử văn hóa lâu đời, vẫn giữ gìn được nét truyền thống cổ kính mặc dù đã được trùng tu, sửa chữa. Dựa trên nền kiến trúc cổ, hiện tại trường sở đã xây thêm một số công trình phụ gồm nhà luyện tập thể thao và 10 phòng học kiểu mới. Tính truyền thống và hiện đại được nhà trường chú ý ngay trong khâu thiết kế và trang trí, vì thế ngôi trường Lê Quý Đôn vẫn mang đậm nét cổ kính.

Một số giáo viên và học sinh tiêu biểu thời Pháp

Hình cựu học sinh khoa Triết năm 1954. Ảnh do bác Nguyen Huu Khanh cung cấp. Nguồn: diendanlequydon.com
Hình cựu học sinh khoa Triết năm 1954.
Ảnh do bác Nguyen Huu Khanh cung cấp.
Nguồn: diendanlequydon.com

Nhà văn hóa, học giả Vương Hồng Sển đã từng học ở ngôi trường danh giá Collège Chasseloup-Laubat. Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire (cao đẳng tiểu học), ông làm chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi trong 20 năm (từ 1923 đến 1943), trong đó có Dinh Thống đốc Nam Kỳ. Nhà cách mạng ở đầu thế kỷ 20 của Việt Nam Nguyễn An Ninh trước theo học ở Trường Taberd, Collège Mỹ Tho sau đó học tại Trường Collège Chasseloup-Laubat. Nhờ tốt nghiệp trung học với bằng ưu nên ông ra Hà Nội học Cao đẳng Y Dược và được miễn chuẩn bằng tú tài.

Trường Collège Chasseloup-Laubat còn là nơi đào tạo một người từng tham gia đánh phát xít Đức ở châu Âu trong đại chiến thế giới thứ nhất (1914-1918). Đó là ông Cao Triều Phát (1889-1956). Thuở nhỏ ông Phát học tiểu học tại quê nhà Bạc Liêu, sau lên Sài Gòn theo học tại trường này. Nhà trí thức yêu nước ở miền Nam nửa đầu thế kỷ 20 và đồng thời là một kỹ sư người bản xứ đầu tiên của Việt Nam và toàn cõi Đông Dương. Đó là ông Lưu Văn Lang (1880-1969) cũng từng học ở ngôi trường lâu đời nhất Sài Gòn. Ông Lang thi đậu tú tài 2 của Pháp với điểm số xuất sắc và nhận học bổng học tại Trường École Centrale de Paris (trường bá nghệ trung ương Pháp lúc bấy giờ). Năm 1904, ông tốt nghiệp với tấm bằng ưu, xếp hạng thứ 8/250 sinh viên và trở thành kỹ sư đầu tiên ở Đông Dương là người bản xứ.

Ngoài ra còn có Trịnh Công Sơn (nhạc sĩ tân nhạc nổi tiếng), Trần Văn Giàu (nhà hoạt động cách mạng, nhà khoa học, nhà nghiên cứu lịch sử, triết học và là nhà giáo Việt Nam), Dương Văn Minh (Tổng Thống cuối cùng của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa),.v..v..

(Tổng hợp)

Trường nữ trung học Gia Long

Trường Nữ trung học Gia Long còn được gọi là  trường nữ sinh Áo Tím nay là trường trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai  tọa lạc tại 275, Điện Biên Phủ, Q3, là một trường trung học phổ thông công lập ở Sài Gòn. Được thành lập từ năm 1913, cho đến nay trường Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những trường phổ thông lâu đời nhất của nền giáo dục Việt Nam.

Trường Áo Tím - Gia Long - Minh Khai
Trường Áo Tím – Gia Long – Minh Khai

Thời Pháp thuộc

Khoảng đầu thế kỷ 20, nền giáo dục ở Việt Nam còn mang tính chất Nho giáo nên ít chú trọng đến giáo dục nữ giới. Xuất phát từ ý định tha thiết muốn xây dựng một nền giáo dục cho nữ giới, năm 1908, nghị viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ Lê Văn Trung cùng vợ của Tổng Đốc Phương và một số nhân sĩ trí thức đã đề nghị chính quyền thực dân Pháp thành lập một ngôi trường Sơ Học Cao Đẳng (bậc tiểu học) dành cho nữ.

Năm 1909, đơn đã được Hội Đồng Quản Hạt chấp thuận nhưng chưa có kinh phí để thực hiện. Mãi đến ngày 6 tháng 11 năm 1913, lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng trường Nữ Học Đường Sài Gòn mới được cử hành. Trường được xây dựng trên một khu đất rộng ở đường Legrand de la Liraye, sau đổi tên là đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ), bên phải là đường Bà Huyện Thanh Quan, bên trái là Đoàn Thị Điểm (Trương Định ngày nay), phía sau là Ngô Thời Nhiệm, thuộc thành phố Sài Gòn.

Hai năm sau, ngày 19 tháng 10 năm 1915, Toàn Quyền Ernest Nestor Roume và Thống Đốc Courbell làm khánh thành. Trong buổi lễ trọng thể này, ban tổ chức đã chọn màu tím làm màu áo đồng phục cho nữ sinh, tượng trưng đức tính đoan trang, kín đáo và khiêm nhường của người thiếu nữ Việt Nam. Từ đó, trường thường được gọi là “Trường Áo Tím”.

Khóa đầu tiên trường tuyển 42 nữ sinh, Các học sinh đầu tiên của Trường thuộc những gia đình sống ở Sài Gòn và các vùng phụ cận. Dần dần, có nhiều học sinh từ các tỉnh lên học nên Trường bắt đầu có nội trú.

Trường đào tạo thành nhiều lớp: Đồng ấu (Enfantin), Cao đẳng (Supérieur). Năm cuối Sơ học (CEP), học sinh phải thi lấy Chứng chỉ Căn bản Giáo dục sau khi tốt nghiệp những lớp cao cấp.

Trong những năm 1917 – 1922, vì số lượng học sinh gia tăng, trường xây dựng thêm một tòa nhà thứ hai song song với tòa nhà cũ.. Các phòng trên lầu được dùng làm phòng ngủ nội trú cho các học sinh xa nhà. Cách một sân cỏ, là một dãy nhà sau, thấp, sát với vách tường rào. Ở đó có bệnh thất, các lớp nữ công gia chánh, phòng giặt và xếp quần áo học sinh nội trú, cuối cùng là nhà bếp.

COLLÈGE DES JEUNES FILLES INDIGÈNES (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ)
Collège Des Jeunes Filles Indegènes (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ)

Tháng 9 năm 1922, Toàn Quyền Albert Sarraut cắt băng khánh thành Ban Trung Học Nữ Học Đường. Một phiến đá bằng cẩm thạch khắc chữ Collège Des Jeunes Filles Indigènes (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ) được dựng lên trước cổng trường, tuy nhiên trường vẫn được biết đến nhiều hơn với cái tên Trường Nữ Sinh Áo Tím.

Bà Lagrange, vợ một ông Chánh Tham Biện người Pháp, được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng ban trung học. Trường mở từ lớp đệ thất niên (lớp 6 bây giờ) đến lớp đệ tứ niên (lớp 9 bây giờ), chỉ thu nhận nữ sinh có bằng Sơ Học và kỳ thi tuyển vào trường.

Lúc đầu, các nữ sinh đậu vào lớp đệ nhất (lớp 12 bây giờ) thì học ban Sư Phạm, sau bốn năm ra làm giáo viên. Hoặc theo ban Phổ Thông. Cả hai ban đều học một chương trình để tốt nghiệp lấy bằng Thành Chung (DEPSI).

Từ lớp Dự Bị (Préparatoire) tức là lớp Hai bây giờ, học sinh đã bắt đầu học Pháp Văn. Ban Trung Học hoàn toàn được giảng dạy bằng tiếng Pháp. Mỗi tuần chỉ có hai giờ Việt Ngữ. Trong trường học sinh bị bắt buộc phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Mỗi lần bị bắt gặp nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt, phải chịu phạt một hay hai xu. Nhưng hình phạt không mấy khi thi hành.

Tuy trường khi này do người Pháp quản lý nhưng phong trào đấu tranh chống thực dân trong học sinh vẫn âm ỉ, ít nhất đã hai lần nữ sinh trường xuống đường. Lần thứ 1 vào đầu năm 1920,  khi một giáo viên người Pháp yêu cầu học sinh người Việt phải nhường ghế ở hàng đầu cho học sinh người Pháp ngồi. Lần thứ 2 vào năm 1926, nhân đám tang cụ Phan Chu Trinh, một phong trào bãi khóa lan rộng từ Nam chí Bắc để tỏ lòng thương tiếc nhà cách mạng lão thành. Học sinh trường Áo Tím nhiệt liệt hưởng ứng đưa đến kết quả một vài nữ sinh bị bắt và phải đuổi khỏi trường.

Năm 1940, quân đội Nhật chiếm đóng trường trong lúc học sinh nghỉ hè. Cũng trong năm này, trường đổi tên thành Collège Gia Long (Cao đẳng tiểu học Gia Long), rồi Lycée Gia Long (Trường trung học đệ nhị cấp Gia Long).

Năm 1941:  tất cả thầy trò đều phải tản cư về trường tiểu học Đồ Chiểu (Tân Định). Ngay khi Nhật trao trả lại trường thì quân đội Anh tiếp thu làm trại lính, kéo dài trong 6 năm.

Năm 1947: khi được người Anh trao trả, trường bị hư hại nhiều đến nỗi vị hiệu trưởng lâm thời là cô Mailleret phải vận động mạnh thường quân quyên góp tài chính để lo việc tu sửa.

Năm 1949: trường lại được mở rộng: một tòa nhà hai tầng được xây mới ở đường Bà Huyện Thanh Quan để đáp ứng số lượng học sinh ngày càng tăng. Cũng trong năm 1949, nữ sinh trường cùng với nam sinh trường Trương Vĩnh Ký tổ chức bãi khóa kỷ niệm ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa dẫn đến việc trường bị nhà cầm quyền cho đóng cửa.

Dãy Bà Huyện Thanh Quan
Dãy Bà Huyện Thanh Quan

Thời Quốc Gia Việt Nam

Năm 1950, sau một cuộc đấu tranh dài hơi có sự góp sức của đông đảo học sinh các trường khác ở khắp vùng Sài Gòn – Gia Định (trong số ấy có nhiều học sinh đã hy sinh, như Trần Văn Ơn của trường Trương Vĩnh Ký), trường được mở cửa lại và đánh dấu một sự kiện lớn: cô Nguyễn Thị Châu, cựu nữ sinh Áo Tím, là vị giáo sư Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm vào chức hiệu trưởng; đó là một niên học đáng ghi nhớ trong lịch sử của trường (Cô Châu qua đời tại Pháp năm 1996)

Đến 1952, chương trình giáo dục Việt dần thay thế chương trình giáo dục Pháp; nữ sinh phải học cả hai ngoại ngữ là Anh – Pháp song song. Kỳ thi tuyển vào trường rất khó và được đem so sánh với kỳ thi vào trường dành cho nam là Lycée Petrus Ký với số học sinh tham dự đến từ khắp nơi trong miền Nam: Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, Tân An…

Năm 1953, đồng phục áo dài tím được thay thế bằng áo dài trắng với phù hiệu bông Mai Vàng. Sau cùng là huy hiệu với tên trường Gia Long được thêu trên vải.

Thời Việt Nam Cộng Hòa

1954, chính quyền Việt Nam ra lệnh dùng tiếng Việt trong mọi cơ sở của người Việt và đương nhiên cả trong ngành giáo dục. Trong hệ thống mới, tiếng Anh, tiếng Pháp trở thành ngoại ngữ. Tên trường được gọi chính thức là Nữ trung học Gia Long.

Trường Nữ trung học Gia Long thời VNCH
Trường Nữ trung học Gia Long thời VNCH

Năm 1964 trường bỏ nội trú. Những dãy lầu từng được dùng làm nơi cư ngụ cho các học sinh nội trú được sửa thành lớp học. Buổi sáng có tất cả năm mươi lăm lớp học từ đệ Tứ đến đệ Nhất (lớp 9 đến lớp 12). Buổi chiều có tất cả bốn mươi lăm lớp từ đệ Thất đến đệ Ngũ (lớp 6 đến lớp 8). Tổng công sáng chiều trường có tất cả một trăm lớp học với tổng cộng 3000 học sinh. Trên bước đường phát triển, trường xây thêm: Thư Viện (1965), phòng Thí Nghiệm Lý Hóa (1966).

Năm 1967, mở rộng Giảng Đường nằm bên cạnh thư viện. Xây dựng sân khấu với mặt tiền chiếm hết chiều rộng của Giảng đường, đồng thời trang bị thêm đàn dương cầm. Cùng thời gian này, trường trang bị thêm Phòng nhiếp ảnh (nhưng chỉ hoạt động thời gian ngắn). Năm 1968, trường xây thêm hồ bơi đối diện thư viện.

Vào khoảng thập niên bảy mươi, kỳ thi tuyển vào đệ thất (lớp 6 ngày nay) mỗi năm có chừng bảy trăm nữ sinh trúng tuyển trong số hơn mười ngàn thí sinh. Một cuộc tuyển sinh vào hệ trung học trường vào khoảng năm 1971 được ghi nhận như sau: có tổng cộng 8000 học sinh ghi danh và thi tuyển nhưng chỉ có 819 đậu. Trường có độ hai trăm giáo sư và năm ngàn nữ sinh.

Thời gian này cũng là thời gian nữ sinh trường tham gia rất mạnh vào các phong trào phản chiến chống chiến tranh Việt Nam, trong đó một số học sinh đã tham gia trực tiếp vào Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, chính các phong trào như trên ở nữ sinh trường đã khiến cho nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng gọi nhiều thế hệ nữ sinh là: Áo Tím trên các nẻo đường đất nước.

Từ năm 1975 đến nay

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trường được chính quyền mới đổi tên thành Trường Phổ thông cấp 2-3 Nguyễn Thị Minh Khai.

Niên khóa 1978-1979: Trường giải thể cấp 2, thu nhận nữ sinh lẫn nam sinh, đổi tên thành Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai tới bây giờ.

Năm 2003, trường được đưa vào vào danh mục của 55 công trình đề nghị điều tra xác lập di tích kiến trúc cổ của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay, cách TP.HCM khoảng 20 cây số có một khu làng đặc biệt, được cất lên từ năm 2000. Đặc biệt vì khu làng mang tên Làng Gia Long (tên cũ của trường PTTH Nguyễn Thị Minh Khai) và bây giờ, là nơi các thế hệ thầy, cô học trò trường Áo Tím – Gia Long – Minh Khai có thể về đây sum họp khi lớn tuổi.

Trường Nguyễn Thị Minh Khai
Trường Nguyễn Thị Minh Khai

Danh Sách Các Vị Cựu Hiệu Trưởng  (từ lúc sáng lập cho tới năm 1975)

– Cô Lagrange: 1914-1920
– Cô Lorenzi: 1920-1922
– Cô Pascalini: 1922-1926
– Cô Saint Marty: 1926-1942
– Cô Fourgeront: 1942-1945
– Cô Malleret: 1945-1947
– Cô Dubois: 1947-1950
– Cô Nguyễn Thị Châu: 1950-1952
– Cô Huỳnh Hữu Hội: 1952-1963
– Cô Nguyễn Thu Ba: 1963-1964
– Cô Trần Thị Khuê: 1964-1965
– Cô Trần Thị Tỵ: 1965-1969
– Cô Phạm Văn Tất: 1969-1975

Hòn Ngọc Viễn Đông tổng hợp

Nguồn:

  • Cô giám học Nguyễn Ngọc Anh
  • Hội Ái Hữu Gia Long Âu Châu
  • Wikipedia

Trường Nữ Trung học Trưng Vương

Trường Nữ Trung học Trưng Vương (Sài Gòn) – Số 3A, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q1

Là một trường trung học công lập danh tiếng ở Sài Gòn trước 1975 dành cho nữ học sinh.

Trường Nữ Trung Học Trưng Vương Sài Gòn trước 1975
Trường Nữ Trung Học Trưng Vương Sài Gòn trước 1975

Lịch sử

Trường Trưng Vương Sài Gòn là hậu thân của ngôi trường Trưng Vương Hà Nội (*).

– Năm 1954: trường được thiết lập khi một số giáo viên học sinh trườngTrưng Vương Hà Nội di cư vào Sài Gòn sau Hiệp định Genève 1954.

– Ban giám đốc đầu tiên gồm có: bà hiệu trưởng Tăng Xuân An, bà giám học Nguyễn Thị Phú – và bà tổng giám thị Nguyệt Minh.

– 3 năm học đầu tiên trường phải học nhờ trường nữ trung học Gia Long (khóa buổi chiều).

– Đến năm 1957: trường Trưng Vương dời về số 3 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, nguyên trước đó là bệnh viện của Quân đội Pháp mang tên Quân y viện Coste, gần Sở Thú Sài Gòn và trường trung học Võ Trường Toản (Sài Gòn). Cấp trung học 7 năm. Hiệu trưởng là người Việt. Đồng phục áo dài màu trắng.

Nữ sinh Trưng Vương Sài Gòn trước 1975
Nữ sinh Trưng Vương Sài Gòn trước 1975

Hàng năm, trường đã chọn ra 2 nữ sinh đẹp nhất đóng vai Hai Bà Trưng để diễu hành trong ngày giỗ 6 tháng 2 Âm Lịch.

Hàng năm, trường đã chọn ra 2 nữ sinh đẹp nhất đóng vai Hai Bà Trưng để diễu hành trong ngày giỗ 6 tháng 2 Âm Lịch..
Hàng năm, trường đã chọn ra 2 nữ sinh đẹp nhất đóng vai Hai Bà Trưng để diễu hành trong ngày giỗ 6 tháng 2 Âm Lịch..

– Từ năm 1975 đến nay: khi chính thể Việt Nam Cộng hòa chấm dứt thì trường cũng đóng cửa, nhường chỗ cho Trường Phổ thông Trưng Vương cấp III cho cả nam lẫn nữ học sinh. Cấp trung học 3 năm với đồng phục cho nữ học sinh là áo dài trắng và đồng phục cho nam học sinh là áo trắng quần xanh.

(*) Đôi nét về trường Trung học Trưng Vương Hà Nội (Tiền thân của trường Trung học Trưng Vương Sài Gòn):

Trường Trung học cơ sở Trưng Vương Hà Nội, tiền thân là trường nữ sinh Đồng Khánh là một trường trung học cơ sở tại Hà Nội.

– Năm 1917: Trường được thành lập với tên gọi là trường nữ sinh Đồng Khánh ngay bên cạnh Hồ Gươm, Hà Nội, trường là một trong các cơ sở giáo dục lâu đời nhất của Hà Nội và Việt Nam.

– Trước năm 1945: trường là cơ sở đào tạo dành riêng cho nữ giới.

– Từ sau năm 1945: trường bắt đầu đào tạo chung cho cả nam và nữ sinh.

– Từ năm 1948: trường đổi tên thành trường Trưng Vương.

– Từ năm 1950: trường chuyển về đường Hai Bà Trưng, Hà Nội. Cấp trung học 7 năm. Hiệu trưởng là người Việt. Đồng phục áo dài màu lam.  

Trường Trưng Vương nổi tiếng với hệ thống lớp chuyên Toán cấp II, đây là nơi từng đào tạo nhiều tài năng Toán học của Việt Nam như giáo sư Hoàng Xuân Sính (nữ tiến sĩ khoa học ngành Toán đầu tiên của Việt Nam) hay Hoàng Lê Minh (học sinh Việt Nam đầu tiên đoạt huy chương vàng Olympic Toán quốc tế)

(Nguồn Wikipedia)