Đường LÝ THÁI TỔ

Từ công trường Cộng Hòa đến đường 3 tháng 2.

Vị trí : Đường nằm trên địa bàn các phường 1, 2 quận 3, chung với quận 10, từ công trường Dân Chủ đến đường 3 tháng 2, dài khoảng 1584 mét, qua ngã ba Nguyễn Đình Chiểu và bùng binh Ngã Bảy.

Lịch sử : Đường này thời Pháp thuộc mang tên Hui Bon Hoa (Chú Hỏa), Ngày 22 tháng 3 năm 1955 đổi tên thành Lý Thái Tổ cho đến nay.

Nhà thờ Huyện Sỹ

1. Vị trí: 

Số 1, đường Tôn Thất Tùng, Q1, Tp. Hồ CHí Minh.

Nhà thờ Huyện Sĩ
Nhà thờ Huyện Sĩ

2. Những nét chính:

Giáo xứ Chợ Đũi – Nhà thờ Huyện Sỹ thuộc giáo hạt Sài Gòn, Tổng Giáo phận Tp. HCM

– Thành lập giáo xứ : 1859.

– Khánh thành nhà thờ : 1905.

3. Về cái tên Chợ Đũi:

“Chợ Đũi” tức là chợ bán đũi. Đũi là thứ hàng dệt bằng tơ gốc, mặt hàng thô. Vải đũi mặc mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, chẳng những được người Việt ưa chuộng mà chinh phục được cả người Thái, người Lào, người Pháp… Chợ Đũi ra đời từ đầu thế kỷ XIX, nay thuộc khu vực phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, Tp.HCM, sau dời về góc đường Cách mạng thánh Tám và Võ Văn Tần, quận 3, Tp.HCM. Vì thế, cách viết “Chợ Đuổi” và từ đó hiểu “chợ bị đuổi” là không chính xác !

4. Về  thân thế ông Huyện Sỹ – Philipphê Lê Phát Đạt:

Theo học giả Vương Hồng Sểnông Huyện Sỹ (1841-1900), còn có tên là Lê Phát Đạt, người Cầu Kho, theo đạo Công giáo, tên thánh Philipphê. Thuở nhỏ tên ông tên Sỹ, nhưng khi học tiếng Latin ở Penăng, vì cùng tên với thầy dạy học nên đổi tên là Đạt. Thời đó rất hiếm người biết chữ (chữ quốc ngữ, chữ Hán) và nhất là tiếng Latin và tiếng Pháp, nên hầu hết những người được đào tạo từ trường dòng ra đều được trọng dụng, trong đó có ông Lê Phát Đạt. Ông được cử làm thông phán và phục vụ ở tỉnh Tân An nhiều năm.
Tương truyền, buổi đầu Tây mới qua, dân cư thưa thớt, tản mác, thực dân Pháp phát mãi ruộng đất vô thừa nhận với giá rẻ mạt mà vẫn không có người mua, thế rồi họ ép ông Sỹ mua. Bất đắc dĩ, ông phải chạy bạc khắp nơi để mua. Không ngờ mấy năm liên tiếp được mùa, ông trở nên giàu có. Trong nhà ông có treo câu đối :

“Cần giữ kiệm, trị gia thượng sách
Nhẫn nhi hoà, xử thế lương đồ.

Thời đó có câu “nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ  Định”, ông Huyện Sỹ đứng thứ nhất trong bốn người giàu nhất Sài Gòn và Nam kì : “nhất Sỹ”.

Ông Huyện Sỹ – Lê Phát Đạt – cũng chính là ông ngoại của bà Nguyễn Hữu Thị Lan (1914-1963), tức Nam Phương Hoàng Hậu, vợ vua Bảo Đại.

5. Lịch sử:

Nhà thờ Huyện Sỹ là một  nhà thờ công giáo cổ hơn 100 tuổi.

Nhà thờ do ông bà Lê Phát Ðạt, tức Huyện Sỹ, hiến đất và xuất 1/7 gia tài để xây dựng, thời giá lúc bấy giờ là khoảng trên 30 muôn (mười ngàn) đồng bạc Đông Dương. Khởi công xây dựng năm 1902 theo thiết kế của linh mục Bouttier[1], đến 1905 thì được khánh thành. Nhà thờ tọa lạc trên một khu đất cao và rộng hơn một mẫu, nằm ở góc đường Frère Louis (nay là đường Nguyễn Trãi) và Frère Guilleraut (nay là đường Tôn Thất Tùng).

Ban đầu nhà thờ có tên là Nhà thờ Chợ Đũi do thuộc họ đạo Chợ Đũi. Mặt khác, do Thánh Philípphê tông đồ là bổn mạng của Huyện Sỹ nên còn được gọi là Nhà thờ Thánh Philípphê. Tuy vậy, dân gian vẫn gọi là Nhà thờ Huyện Sỹ, và sau đó dần trở thành tên chính thức của nhà thờ này.

6. Khuôn viên:

Nhà thờ Huyện Sỹ được đánh giá là có khuôn viên rộng rãi khoáng đãng nhất ở Sài Gòn. Phía trước nhà thờ có tượng đài thánh tử đạo Việt Nam là Mátthêu Lê Văn Gẫm. Gần cổng chính còn có đài thiên thần hộ thủ và tượng đài Thánh Giuse.

Bên trái khuôn viên là núi Đức Mẹ Lộ Đức, được xây dựng năm 1960 để kính Đức Mẹ Lộ Đức. Hằng năm cứ vào ngày 11 tháng 2 dương lịch, các linh mục chính xứ Chợ Đũi có thói quen cử hành thánh lễ tại núi này để cầu nguyện đặc biệt cho các bệnh nhân.

Phía bên phải khuôn viên nhà thờ là đồi Canvê, có tượng chuộc tội rất lớn được xây dựng năm 1974 dưới thời linh mục Gioan Baotixita Dương Hoàng Thanh.

7. Kiến trúc:

Nhà thờ có chiều dài 40 mét, chia làm 4 gian, rộng 18 mét. Thiết kế ban đầu của nhà thờ Huyện Sỹ gồm 5 gian, tức khoảng 50 mét. Nhưng thời gian đó, nhà thờ tạm Chí Hòa bị hư hại trầm trọng, vì vậy, giới chức trong họ đạo Chợ Đũi đã xin cắt bớt 1 gian, dùng số tiền đó để xây nhà thờ Chí Hòa. Nhà thờ Chí Hoà đến nay vẫn còn, được tôn tạo nhiều lần nên rất khang trang.

Nhà thờ Huyện Sỹ dùng đá granite Biên Hòa để ốp mặt tiền và các cột chính điện, theo phong cách kiến trúc Gothic. Chính điện nhà thờ có vòm chịu lực dạng cung nhọn. Tường có nhiều cửa sổ dạng vòm đỉnh nhọn và được trang trí bằng lớp kính màu ghép hình mua từ Ý. Bên trong các gian tường có nhiều tượng thánh. Trên vòm cửa chính có tượng thánh Philípphê bổn mạng nhà thờ bằng đá cẩm thạch, đứng cầm cây thánh giá Phục sinh.

Ngọn tháp chuông chính cao 57 mét kể cả chiều cao thánh giá và con gà trống Gaulois. Bên trong tháp có 4 quả chuông được đặt đúc tại Pháp năm 1905. Hai quả lớn có đường kính 1,05 mét do con trai và con dâu Huyện Sỹ là ông Gioan Baotixita Lê Phát Thanh và bà Anna Đỗ Thị Thao tặng. Hai quả chuông nhỏ đường kính 0,95 mét không ghi tên người tặng, có lẽ là của ông bà Huyện Sỹ đặt đúc cùng năm.

Huyện Sỹ qua đời năm 1900 khi nhà thờ chưa xây dựng xong. Về sau khi vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài mất năm 1920, người ta mới đưa hai ông bà chôn ở gian chái sau cung thánh của nhà thờ này.

Tại gian chái bên trái là tượng bán thân ông Huyện Sỹ bằng thạch cao gắn cột đầu, phía sau là phần mộ bằng đá cẩm thạch được trang trí hoa văn. Trên mộ là tượng toàn thân ông Huyện Sỹ kê đầu trên hai chiếc gối bằng đá cẩm thạch được điêu khắc tinh xảo, đầu chít khăn đóng quay về cung thánh nhà thờ, mình mặc áo dài gấm hoa văn tinh xảo, hai tay đan vào nhau trước ngực, chân đi giày. Đối diện bên phải là tượng vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài (1845-1920), với tóc búi, cũng dựa trên hai chiếc gối, hai tay nắm trước ngực, mặc áo dài gấm, chân mang hài. Phía trong cùng còn có tượng bán thân của con trai và con dâu ông bà là Gioan Baotixita Lê Phát Thanh (bên phải) và Anna Đỗ Thị Thao (bên trái).

* Giờ lễ:

Lễ ngày thường : 5h , 17h30
Lễ Chủ nhật : 5h , 6h30 , 8h , 16h30 , 18h.

(Sưu tầm – Tổng hợp)

Những hoa hậu đầu tiên của đất Sài Gòn xưa

Có rất nhiều tài liệu nói về ai là hoa hậu đầu tiên của đất Sài Gòn, và cuộc thi hoa hậu ấy được mở vào năm nào, ở đâu. Tôi không dám khẳng  định ai là hoa hậu đầu tiên trên đất Sài Gòn, nên ở đây chỉ kể về tất cả những người đẹp được cho là những hoa hậu đầu tiên của đất Sài Gon – Gia Định:

1. NGUYỄN THỊ LIỄU:

Có một vài sự khẳng định không giống nhau về năm tháng của sự việc. Có người nói cuộc thi hoa hậu đầu tiên mở tại Sài Gòn vào năm 1937 , nhưng người khác khẳng định cái mốc “đầu tiên” ấy lùi rất xa vào năm 1864 (cách đây những 146 năm)! Lại cũng có người bảo vào năm 1865! Người thì nhớ mang máng “đâu vào thời… Ngô Đình Diệm!”.

Có tài  liệu cho rằng cuộc thi hoa hậu đầu tiên đã diễn ra tại vườn Ông Thượng tức vườn Tao Đàn hiện thuộc địa bàn quận 1, TP.HCM vào năm nói trên. Đứng ra tổ chức cuộc thi (gọi theo tiếng Pháp là Concours élégantSaigon) là một nhóm công chức với sự kết hợp và hỗ trợ của một số nhà kinh doanh lúc bấy giờ đang hoạt động ở Sài Gòn.

Tuy mở trên đất “Bến Nghé xưa” song phạm vi “tuyển sinh” lan đến tận những vùng xa hơn, đến các thành phố và nông thôn ngoại vi Sài Gòn, nên đã có 19 cô gái vừa là “dân Bến Nghé” vừa là hoa khôi ở lục tỉnh được chọn để bước vào tầm ngắm của làng đẹp xứ ta. Nói “xứ ta” vì có người bảo rằng đây không những là cuộc thi hoa hậu đầu tiên của Sài Gòn, của Nam Bộ, mà của cả ViệtNam nữa. Một trong những đặc điểm cuộc thi là thí sinh mặc toàn áo dài ViệtNam do nhà may Phúc Thịnh thiết kế có lẽ theo mẫu mã thời thượng lúc ấy. Vải may áo thì do ông Lê Trương Biểu sản xuất và cung cấp. Có nghĩa là cuộc thi hoa hậu này từ người đẹp đến trang phục đều là nội hóa “rất ViệtNam”. Kết quả, người đẹp được nhận danh hiệu hoa hậu đầu tiên vào năm 1937 là cô gái 25 tuổi tên là Nguyễn Thị Liễu, và cuộc thi hoa hậu này còn có tên Concours Elegant Saigon (thi tuyển người lịch sự Sài gòn) vào năm 1937.

Nguyễn Thị Liễu sinh năm 1912, quê ở Hóc Môn. Nguyễn Thị Liễu lấy chồng năm 17 tuổi nhưng chỉ được 6 tháng thì chồng cô vắn số qua đời, cô hoa hậu bất đắc dĩ sống cuộc đời góa bụa. Đến nay vẫn chưa tìm thấy chân dung của hoa hậu Nguyễn Thị Liễu.

2. CÔ BA XÀ BÔNG:

Chân dung "Cô Ba Xà Bông"
Chân dung “Cô Ba Xà Bông”

Đứng hàng đầu trong danh sách những người đẹp vang bóng trên đất Sài Gòn vào cuối thế kỷ 19 và những thập niên đầu thế kỷ 20 phải kể đến “cô Ba Xà Bông”

Có tài liệu cho rằng cuộc thi hoa hậu đầu tiên ở Việt Namdo người ViệtNamtổ chức thì  vào năm 1865 và mang tên cuộc thi Miss Sài Gòn dành riêng cho các người đẹp ViệtNam. Lần này điều lệ được phổ biến không chỉ ở phạm vi Sài Gòn mà còn lan ra nhiều vùng phụ cận nên sau đó đã có gần 100 cô gái đăng ký dự thi với kết quả người đoạt vương miện Hoa hậu “là cô Ba, con gái của ông Chánh, làm nghề thư ký. Trước vẻ đẹp rực rỡ của cô Ba, nhiều người Pháp đã đề nghị cô chụp ảnh để đăng báo ở chính quốc. Họ rất muốn chụp cô trong trang phục áo tắm nhưng cô không đồng ý. Chân dung cô sau đó được vẽ rồi in thành tem với số lượng phát hành lớn chưa từng có. Một thời gian sau đó, cô Ba lấy chồng Việt Nam bình thường và sống giản dị, bỏ lại đằng sau ánh hào quang phù phiếm và không bị ảnh hưởng bởi lối sống ngoại lai.

Sở dĩ gọi “cô Ba xà bông” vì hình của người đẹp này được in nổi trên các sản phẩm nổi tiếng của Hãng xà bông Việt Namdo ông Trương Văn Bền lập ra. Các hình ấy xuất hiện cùng lúc với các mẫu xà bông hình vuông nhiều cỡ, nặng 250 gr, 500 gr hoặc chỉ 125 gr, về sau thêm loại lớn và dài nặng gần 1 kg đúc thành cây mua về cắt từng miếng nhỏ xài dần. Mỗi loại như thế đều có sự “hiện diện” của cô Ba, lưu hành đến các nơi đô hội dần dần đến tận các chợ miền xa ngoài Sài Gòn và lục tỉnh. Như thế cô Ba đã nghiễm nhiên trở thành “người mẫu” đầu tiên gắn liền với một thương hiệu ViệtNammới ra đời đầu thế kỷ 20. Sự ra đời này cùng với hình ảnh cô Ba, theo một số nhà quan sát, đã nhấn mạnh sự có mặt của sản phẩm Việt và chấm dứt sự thao túng gần như độc quyền của Hãng xà bông Marseille của Pháp đối với người tiêu dùng Việt Nam lúc bấy giờ.

Cô Ba là ai mà được ông Trương Văn Bền chọn làm biểu tượng bên hương thơm xà bông Việt? Điều này tác giả Sài Gòn năm xưa đề cập đến một cách rõ nét, rằng: “Trong giới huê khôi, nghe nhắc lại, trước kia, hồi Tây mới đến có cô Ba, con gái thầy thông Chánh là đẹp không ai bì, đẹp tự nhiên, không răng giả, không ngực keo su nhơn tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt mượt và thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi Nhà nước in hình vào con tem Nhà Thơ Dây Thép (Bưu điện)”.

Xà bông Cô Ba
Xà bông Cô Ba
Những con tem in hình Cô Ba
Những con tem in hình Cô Ba

Cạnh cô Ba, tác giả nhắc đến một số hoa khôi khác như Tư Nhị, Sáu Hương, Hai Thời… vốn là những người đẹp đã làm nghiêng ngả nhà cửa ruộng vườn của nhiều tay hiếu sắc. Theo đó, các cô mỗi chiều ngồi trên xe Delage để mui trần, có tài xế riêng, hoặc ngồi trên xe Hoa Kỳ mới cáu cạnh để lượn đi lượn lại quanh các đường phố chính của Sài Gòn từ chợ Bến Thành qua đường Bonard (đường Lê Lợi ngày nay) vòng qua trường Chasseloup – Laubat (trường Lê Quý Đôn ngày nay), xuống khu Chợ Lớn, khoe sắc trên đường nhựa “để lên Thủ Đức ăn nem hoặc đến tắm suối Xuân Trường… Tối lại dưới bóng đèn, các cô như bướm tề tựu đủ mặt cạnh sòng bài sòng me, hoặc năm ba người gầy mâm hút có đờn ca giúp vui, báo hại các cậu con chủ điền muốn lên mặt với chị em đành phải trốn về bán lúa vay bạc Chà, cố cầm sự nghiệp ông bà để lại” mà chạy theo cho kịp nếp ăn chơi của các hoa khôi đương thời.

Nhưng nếp sống ấy dường như không phù hợp với cô Ba xà bông. Có người bảo vì cô sinh ra trong một gia đình công chức nên không quen sống buông thả, người khác cho rằng bản tính của cô vốn vậy từ lâu. Gần đây, vào giữa tháng 6.2006, trong bộ sách mới nhất quanh nội dung Hỏi đáp về Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh của nhiều tác giả do NXB Trẻ ấn hành, đã cho biết cô Ba là “người đã dám cầm súng bắn chết tên biện lý Jaboin, bị Tòa đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19.6.1893 và bị xử tử ngày 18.1.1894 tại Trà Vinh”. Người đẹp lừng lẫy Sài Gòn một thời, người mẫu đầu tiên của thương hiệu Việt nổi tiếng, đã có một kết cục cuối đời như thế.

Nhưng theo Thơ Thầy Thông Chánh, bài thơ do một người không rõ tên ở Trà Vinh sáng tác và được truyền khẩu khá rộng rãi ở Nam Bộ (Việt Nam) vào cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, bài thơ lại nói chính thầy Thông Chánh (cha của Cô Ba) đã bắn Biện lý Jaboin chứ không phải Cô Ba. Có thể tham khảo thêm thơ Thầy Thông Chánh tại đây:  http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%A1_Th%E1%BA%A7y_Th%C3%B4ng_Ch%C3%A1nh
Theo truyện thơ, ngày xảy ra sự kiện thầy Thông Chánh bắn Biện lý Jaboin là ngày Chánh Chung (tức Quốc khánh Pháp ngày 14 tháng 7). Thực tế ngày bắn là 14 tháng 5 năm 1893. Theo nhà nghiên cứu Trần Dũng thì tác giả truyện thơ cố tình đẩy lùi thời gian lại hai tháng nhằm hai mục đích: Thứ nhất, tiếng súng bắn Tây xảy ra ngày Quốc khánh Tây (Pháp) có tiếng vang hơn nhiều so với ngày thường; thứ hai, tác giả tạo ra bối cảnh hợp lý để qui tụ hàng loạt tên thực dân có máu mặt khắp Nam Kỳ về Trà Vinh cho thầy Thông Chánh ra tay thay vì có mỗi Jaboin.

Còn Cô Ba Sau khi thầy Thông Chánh bị xử tử, cô Ba toan trả thù cho cha nhưng vừa đưa súng lên bắn thì bị đối phương xô té. Bị bắt giam, cô Ba đã tự tử chết.

3. NGUYỄN HỮU THỊ LAN:

Năm 1932, trên đất Sàigon xưa cũng nổi lên một cái tên làm điên đảo đấng mày râu – Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan. Xuất thân từ nguồn gốc thế gia vọng tộc, cô là cháu ngoại của ông Lê Phát Đạt tức Huyện Sỹ, người đứng đầu trong tứ đại danh gia: Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định.

Sau khi tốt nghiệp tú tài ở Pháp về nước, Marie Thérèse tình cờ quen biết với Vĩnh Thụy khi Vĩnh Thụy đăng cơ trở thành vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, cô trở thành Nam Phương hoàng hậu vào ngày 20/3/1934, và cũng trở thành biểu tượng nhan sắc của cả nước.

Nguyễn Hữu Thị Lan
Nguyễn Hữu Thị Lan
Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Nam Phương hoàng hậu
Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Nam Phương hoàng hậu

4. CÔ BA TRÀ:

Một nhan sắc khác cũng nức tiếng toàn cõi Namkỳ là Cô Ba Trà (Yvette Trà). Những người quen biết và từng giao thiệp với Yvette Trà đều xem đó là niềm vinh dự để chứng minh đẳng cấp, đủ để hiểu ngoài việc xinh đẹp cô còn là một thương hiệu hiếm có, có lẽ do thông minh và hiểu tâm lý đàn ông!

Sinh năm 1906, được mệnh danh là Étoile de Saigon” (ngôi sao Sàigòn). Với nhan sắc hiếm có cộng với trí thông minh của mình, cô lần lượt “đốn ngã” hàng loạt những tay chơi hào hoa giàu có bậc nhất Sàigòn như lưỡng vị Hắc – Bạch công tử, công tử Bích (người dám một lúc tặng cho cô 70.000 đồng trong lúc vàng 60 đồng một lượng).

Những tay trí thức, máu mặt chốn quan trường thời Pháp thuộc cũng đổ gục vì cô: Quan tòa Trần Văn Tỷ, trạng sư Dương Văn Giáo, bác sĩ Lê Quang Trinh, Nguyễn Văn Áng, chủ sòng bạc Paul Ngọ tức Sáu Ngọ…

Cô ba Trần Ngọc Trà còn được mệnh danh bà hoàng vũ trường, sòng bài Sài Gòn hồi cuối thế kỷ XIX. Những bậc “máu mặt” đều biết rất rõ, cô Ba Trà chỉ thích chia cho mỗi ngưòi một mảnh tình gặm chơi đỡ buồn, chứ đừng ai mong lấy được Ngôi sao Sài Gòn làm của riêng hay làm người yêu vĩnh viễn vì cô Ba đã lập gia đình vài ba lần và rồi tan vỡ.

Chân dung cô Ba Trà
Chân dung cô Ba Trà

Nhưng tuổi thơ của người đẹp này lại vô cùng cay đắng, tủi nhục. Cha của cô đem lòng nghi ngờ sự chung thủy của vợ, ông không thừa nhận Trà là con đẻ. Và cũng vì quá ghen tuông nên cha cô đã qua đời vì thổ huyết. Bà nội của cô đau buồn nên cũng mất theo. Người bác ruột của cô vin vào cớ đó đã sỉ nhục, đánh đuổi mẹ con cô ra khỏi nhà.

Vì quá đau khổ, nhục nhã nên được bao nhiêu uất ức, mẹ cô đều trút lên vai đứa con nhỏ dại. Những trận đòn roi vô cớ liên tục ập xuống đầu cô nhiều đến nỗi, cô không còn thấy đau đớn. Chính điều này đã làm cho cô Ba Trà sau này luôn nhìn đời bằng một con mắt lạnh lùng, vô cảm.

Tình duyên, hôn nhân của cô cũng rất lận đận. Cô bắt đầu kết hôn ở tuổi 14, và đã trải qua 4 cuộc hôn nhân lần lượt là: viên quan ba người Pháp, con rai tỷ phú đất Phan Rang, bác sĩ Trần Ngọc Án, và cuối cùng là 1 triệu phú trẻ tuổi, nhưng tất cả đều tan vỡ. Kể từ đó, cô lao vào ăn chơi, cặp kè hết người này đến người khác và dấn sâu vào con đường bài bạc

Những canh bạc lớn đã đốt sạch gia sản của người đẹp. Khi còn trẻ, cô Ba Trà được nhiều người săn đón bao nhiêu thì đến lúc già, cô lại cô độc bấy nhiêu. Kể cả người tình nghĩa hiệp Lâm Kỳ Xuyên cũng ra đi không một lần ngoái lại. Đến cuối đời, hoa khôi Trần Ngọc Trà lâm vào cảnh nợ nần, túng bấn và phải đi làm công ở một cửa tiệm tồi tàn để sinh kế. Cuộc đời của đóa hoa đẹp nhất Sài Gòn lúc bấy giờ đã khép lại bằng những nốt trầm buồn bã.

5. MARIANNE NHỊ (TƯ NHỊ):

Nối gót Yvette Trà chính là Marianne Nhị hay còn gọi là Tư Nhị, cô có nhan sắc đậm đà và hoang dã hơn YvetteTrà. Marianne Nhị là “đứa con hai dòng máu”, cha gốc Khơ-me, mẹ Việt (quê Sa Đéc), gia đình sinh sống lâu năm ở Nam Vang.

Lớn lên, Marianne Nhị về ViệtNam, một mình dấn thân vào chốn đô hội ở Sàigòn với hai bàn tay trắng. Để có chỗ nương thân, Nhị lúc đầu xin làm em nuôi dưới trướng của chị Ba Phò và sống trong nhà chị ấy ở khu vực chợ Thái Bình.

Sau này, Marianne Nhị được Yvette Trà dìu dắt, từ đó, cô lao vào cuộc chơi với giới thượng lưu Sàigòn và nhanh chóng trở thành tình nhân của Fanchini, một trùm giang hồ gốc đảo Corse chuyên buôn thuốc phiện toàn cõi Đông Dương và tậu được một căn biệt thự khang trang ở đường Verdun (tức đường Cách Mạng Tháng Tám bây giờ).

Với bản tính man dại và chủ trương cạnh tranh với bà chị đỡ đầu Yvette Trà, Marianne Nhị lao vào các cuộc chơi như một con thiêu thân. Người tình của Tư Nhị thay xoành xoạch và thú hút thuốc phiện đã nhanh chóng đẩy Marianne Nhị vào bi kịch.

Sau vài năm, trong lúc Yvette Trà vẫn còn là một bông hoa đầy hương sắc, thì Marianne Nhị bỗng dưng biến mất.

Một người lịch lãm ở Sàigòn thời ấy tình cờ gặp Marianne Nhị trong một quán ăn ở đường George Guynemer vào năm 1946 với tình cảnh hoàn toàn khác xưa. Người này sau bữa điểm tâm, trả tiền xong định quay về, bỗng nghe tiếng gọi giật ngược: “Anh Ba!”. Ngoái lại, biết tiếng kêu ấy phát ra từ trong đám hành khất rách rưới, định bước đi, lại nghe gọi đến mình thống thiết lần nữa, lần này đượm vẻ bi ai hơn trước. Rồi một người đàn bà trong đám ăn mày tách ra, đến trước mặt anh Ba, thảng thốt nói: “Em là Tư Nhị đây”.

Nhìn kỹ một lúc, không nói nên lời, vì người đàn bà ấy trước kia là hoa khôi lừng lẫy một thời, giờ đây môi thâm đen, đôi chân nõn nà quấn quanh mấy lớp vải dính máu mủ với đám ruồi bu đen không ngớt, trông dơ dáy, não nề, không dám nhìn lâu, bỏ nhẹ 20 đồng bạc xưa vào tay Nhị rồi quay đi.

Biết chuyện, một bạn thơ muốn mượn hai câu lục bát của cụ Nguyễn Du, đó là câu mở đầu và câu kết thúc truyện Kiều ghép làm một, để nói về một đời nhan sắc phù hoa: Trăm năm trong cõi người ta. Mua vui cũng được một vài trống canh…

 (Sưu tầm – Tổng hợp)

BẠCH CÔNG TỬ – TỶ PHÚ ĐỐT TIỀN

Bạch công tử là một tay chơi nổi tiếng ở miền Nam những năm của thập niên 1920, 1930. Cùng với Hắc công tử, tức Công tử Bạc Liêu để lại nhiều giai thoại về ăn chơi hoang phí. Bạch công tử còn là người có rất nhiều đóng góp cho nghệ thuật cải lương ở miền Nam khi đó. Ông là chồng của NSND Phùng  Há.

Bạch Công Tử – Phước George

Ở bài trước, các bạn đã nghe kể chuyện công tử Bạc Liêu hay còn gọi là Hắc công tử. Bài này mời các bạn nghe chuyện về nhân vật thứ 2 trong bộ đôi mà người đời thường gọi chung là Hắc -Bạch công tử. Tên cúng cơm đầy đủ của Bạch Công Tử là Lê Công Phước, còn gọi là Phước George. Cha của Phước là Đốc sứ Lê Công Xuân, người gốc Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay), vốn làm giàu nhờ nhiều ruộng, nhiều của chìm của nổi trong các dịch vụ làm ăn mờ áo. Dòng họ Lê vốn có nhiều công lao với người Pháp thời ấy. cho nên ngoài nhưng ưu đãi trong công cuộc làm ăn, họ còn được chính quyền bảo hộ cho nhập Pháp tịch, bởi thế Lê Công Phước mới có tên là Phước George.

Ngay từ thuở thiếu thời,Phước George đã được gia đình gởi sang Pháp du học. Và cũng giống như Hắc công tử Bạc Liêu, anh chàng Phước sau một thời học ở Pháp chỉ về nước chỉ vỏn vẹn có một cái bằng cấp … nhảy đầm. Thất thu về học vânx, nhưng lại bội thu về vốn liếng ăn chơi trác táng, thành tích lẫy lừng nhất của Phước Geogre là mối tình giữa anh ta với cô công chúa của Sa Hoàng Nicolas đệ nhị, lúc đó đang lưu vong ở Paris. Chàng Phước bằng tiền từ quê nhà gửi sang, qua trương mục ngân hàng, đã rút ra tiêu xài xả láng, quyến rũ được cô gái Nga vương giả thất sủng đang cần tiền.

Qua cuộc phiêu lưu tình ái đó, Phước George đã tiêu xài khá nhiều tiền của ông bố, đến nỗi Đốc phủ Xuân phải triệu hồi cậu ấm Phước về nước. Vốn trắng trẻo đẹp trai, và cũng đẻ phân biệt với một công tử đường thời, người ta đặt cho Phước biệt danh la Bạch công tử. Nếu so về tiền của thì có thể Bạch công tử có phần kém hơn Hắc công tử Bạc Liêu, song kể về ăn chơi thì chàng Bạch công tử có phần trội hơn, có lẽ do bản tính hào hoa, do đã từng mê hoặc được cả công chúa Nga. Có nhiều giai thoại về những cuộc ăn chơi trác táng, đốt tiền như đốt rác của hai anh chàng này, mà tiêu biểu nhất là chuyện chàng này đốt giấy bạc cho chàng kia tìm của rơi. Chuyện như thế này: Một ngày kia, hai chàng Hắc -Bạch tham gia một bữa tiệc lớn tại nhà riêng của một người bạn chung. Trong buổi đó, lúc gầy sòng đánh bạc cho vui, Hắc công tử lỡ tay đánh rơi tờ giấy “oảnh” (giấy bạc Vingtpiastres – 20 đồng). Trong lúc Hắc công tử còn đang quờ quạng mò tìm dưới gầm bàn thì bất ngờ, Bạch công tử rút ngay tờ giấy “xăng” (cent – một trăm đồng), bật diêm đốt để soi cho chàng Hắc tìm tờ giấy 20 đồng. Đúng là một cách chơi khăm đầy ác ý, nhằm mục đích hạ nhục đối thủ của mình. Tất nhiên, Hắc công tử hận lắm nhưng anh chàng biết nhẫn nhục chờ cơ hội. Và cuộc trả thù nghe nói đã diễn ra sau đó vài tháng, khá ngông cuồng. Hôm đó đích thân Hắc công tử mời bạn bè từ quê nhà ở Bạc Liêu, để chiêu đãi một tiệc thật linh đình. Trong số khách đó không thể thiếu Bạch công tử. Trong buổi tiệc, khi ăn đến món tả – pín -lù (bò nhúng dấm), Hắc công tử đã dùng cả một bao toàn giấy bạc bộ tư (giấy 100 đồng Đông Dương có in hình chiếc lư đồng) để dùng làm củi đốt lò (thời đó vàng chỉ giá 50 đồng một lạng)

Cuộc rửa hận của Hắc công tử đã làm chấn động Nam Kỳ lục tỉnh thời ấy. Phước George thấm thía điều đó hơn ai hết, cho nên anh chàng quyết chí tạo thêm thanh thế, hầu lấn lướt địch thủ. Mục đích duy nhất của Phước là giành lại ảnh hưởng trong giới mỹ nhân đất Sài Gòn thời đó.

Bạch công tử tung “độc chiêu” bằng cách lập 1 đoàn hát lấy tên là Huỳnh Kỳ (thuở ấy dân chơi, dân hào phú rất mê đào hát, làm chủ một gánh hát lớn là một cách kinh doanh “thời thượng” vừa hốt bạc lại vừa lất tiếng). Gánh hát của Bạch công tử được tổ chức khá quy mô, ba chiếc ghe chài vận chuyển đoàn đi lưu diễn đây đó, được thiết kế như những chiếc du thuyền, và đặc biệt hơn nữa là ách bố trí của chủ nhà: chiếc thứ nhất có hai tầng, chia nhiều phòng, trong đó có phòng cho ông bầu Bạch công tử và các phòng để giải trí (đánh bạc, bida). Chiếc ghe thứ hai dành cho đào kép, có cả phòng tập tuồng. Còn chiếc ghe chỉ dành chở … đội bóng của gánh hát Huỳnh Kỳ. Đội bóng quy tụ nhiều cầu thủ có tiếng, được trả lương cao, chỉ để đá bóng mỗi khi gánh hát đi lưu diễn. Vào thời ấy, đội bóng đá này đã gây thích thú cho khán giả nhiều nơi …

Mục đích ban đầu của Bạch công tử là dùng đoàn hát để kinh doanh, nhưng bởi máu ăn chơi tiêm nhiễm nặng nên dần dần gánh Huỳnh Kỳ trở thành môi trường thuận lợi cho chàng công tử trắng này tiếp tục đốt tiền.Ông Đốc phủ Xuân lúc đó đã già, những dịch vụ tài chính khác đã có biểu hiện đi xuống … Thêm vào đó, với cách vừa làm ăn vừa phá của như Bạch công tử, nên chẳng mấy chốc nhà họ Lê mang những món nợ không thể ngời nổi.

Lúc ấy Bạch công tử lại đưa đoàn hát đi xuất ngoại, diễn cho Việt kiều ở Pháp xem. Họa vô đơn chí, thành công chẳng được bao nhiêu, nhưng khi trở về lại bị chìm tàu ở Địa Trung Hải. Của cải đổ xuống biển, chỉ may mắn là người còn sống sót. Lúc trở lại Sài Gòn, hầu như Bạch công tử đã trắng tay.

Lúc còn hưng thịnh, Bạch công tử từng tuyên bố ông sẽ không bao giờ nhờ vả người khác. Nếu có sạt nghiệp thì ông sẽ lái xe hơi raVũ ng Tàu và chạy thẳng xuống biển để kết liễu cuộc đời. Nhiều người cho rằng gọi là “ăn chơi” nhưng thực ra Bạch Công tử cũng chỉ lo cho gánh hát. Mặc dù vậy ông cùng với Công tử Bạc Liêu để lại khá nhiều giai thoại. Và trong giai đoạn đó, những người như Bạch Công tử, như thầy Năm Tú (người nhập cảng linh kiện tvề tổ chức lắp ráp và kinh doanh máy hát đĩa thời đó) đã có công trong việc phát triển cải lương  Nam bộ. Vương Hồng Sển, trong hồi ký 50 năm mê hát của mình cũng viết: “Tôi có nhiều cảm tình riêng đối với Cậu Tư”.

Sau khi chia tay với Phùng Há, Bạch công từ ngày càng lún sâu vào nghiện ngập. Tài sản lần lượt bán hết, người ta thấy ông lang thang ở vườn Ông Thượng (nay là Tao Đàn). Mặc cho cơn nghiện và đói khát hành hạ, ông không hề ngửa tay xin xỏ hay nhờ vả ai.

Sau đó ông được một người thân mang về chăm sóc. Đó là ông Nguyễn Ngọc Phi, một điền chủ đất ở chợ gạo, con trai một người bạn thân của ông Lê Công Sủng, bố của Bạch công tử.

Cuối năm 1949, Nguyễn Ngọc Phi đưa Bạch công tử về về chăm sóc tại gia đình ông ở thị trấn Chợ Gạo. Nhưng vì hậu quả của nghiện ngập, Bạch công tử mất đầu năm 1950.

Mộ Bạch công tử (màu hồng) trong một khu vườn không người chăm sóc ở xã An Thạnh Thủy – huyện Chợ Gạo

Theo ông Trương Ngọc Tường thì sau khi đã thành danh, nữ nghệ sĩ Phùng Há nhớ lại những người từng là ân nhân trước đây như thầy tuồng, đạo diễn, bà đã bỏ tiền ra xây mồ mả cho nhiều người. Trong đó có việc cải táng mộ Đốc phủ Lê Công Sủng và 2 người con của bà với Bạch Công tử đưa về Sài Gòn. Riêng mộ Bạch Công tử thì vẫn còn tại Chợ Gạo.

Thông Hiệp Quách Đàm – Ông chủ chợ Bình Tây

Tượng Quách Đàm trước chợ Bình Tây
Tượng Quách Đàm trước chợ Bình Tây

Người già Sài Gòn có thể nghe và biết về Quách Đàm, còn lớp trẻ ngày nay chắc chắn sẽ hỏi: “Quách Đàm là ai?”. Để trả lời, xin nhắc tới một nơi chốn khá dễ thấy: ngôi chợ Bình Tây (Quận 6, TPHCM ngày nay)

Quách Đàm là người Hoa, di dân qua Việt Nam kể từ khi phong trào phản Thanh phục Minh nổi lên mạnh mẽ tại Trung Quốc. Tuy vẫn khoác bên ngoài bộ cánh của một người Hán theo nhà Thanh, nhưng thực ra, theo nhiều người biết chuyện, Quách Đàm ngầm ủng hộ cho nhóm phản Thanh phục Minh.

Trở lại xuất thân của con người được liệt vào danh sách nhà hào phú bậc nhất ở Sài Gòn – Chợ Lớn thời ấy, chúng ta được biết, thuở nhỏ Quách Đàm có cuộc sống cơ cực, nghèo khó. Cũng giống như chú Hỏa, khởi nghiệp Quách Đám lập nghiệp bằng đôi quang gánh (mua ve chai). Quách Đàm vốn mồ côi, không nhà không cửa, nên phải sống lang thang đầu đường xó chợ. Ngày đi mua ve chai, tối về ngủ ở mái hiên ở các ngôi phố ở Chợ Lớn cũ, nằm ở khu vực Bưu điện Chợ Lớn, đầu đường Châu Văn Liêm ngày nay. Tuy sống cảnh đời bấp bênh như vậy, nhưng chú Ba Đàm (người ta thường gọi ông như thế) vẫn nuôi chí làm giàu. Vài năm sau, người ta thấy Quách Đàm có một ít vốn. Vẫn chưa có nhà cửa, nhưng chú Đàm không vì vậy mà không bắt đầu con đường “doanh nghiệp” của mình, bằng cách dùng số vốn ít ỏi, mua đi bán lại các  mặt hàng hiếm và lạ, như da trâu, vi cá. Thời đó, những mặt hàng này chủ yếu là đem bán ở nước ngoài.

Công cuộc kinh doanh của Quách Đàm không phải là suôn sẻ ở buổi đầu, bởi ông còn phải ngủ đường ngủ chợ, cho nên thường bị bọn xấu rình đắp cắp vốn liếng giấu trong hầu bao. Mất tiền nhiều lượt, nhưng chú Đàm vẫn không nản, kiên trì làm lại từ đầu, chỉ vài năm sau nữa, Quách Đàm đã có được một số vốn kha khá. Chú mướn được một căn phố ở khu vực chợ Kim Biên ngày nay (thời đó toàn bộ khu vực này còn là một con rạch chảy ra kênh Tàu Hũ). Lợi dụng địa thể ngôi nhà ở ngay bờ kênh, Quách Đàm đã chuyển sang kinh doanh nông sản, thực phẩm, chủ yếu là thu mua lúa gạo ở các tỉnh miền Tây. Ban đầu buôn nhỏ, sau phát triển to dần, trở thành nhà thầu cung cấp gạo lớn nhất nhì Sài Gòn – Chợ Lớn. Hầu hết những “chành” gạo ở dọc theo vùng Bình Đông, bến Lê Quang Liêm ngày nay, có thời là của chú Đàm.

Trong kinh doanh, Quách Đàm rất khôn khéo. Ông vừa tránh đối đầu với thể lực người Pháp, nhưng lại không hề thua kém họ trên thương trường. Họ Quách lại nhanh nhạy, thông minh, nên chẳng mấy lúc, nhờ tài ngoại giao, ông đã được “nhà nước bảo hộ” dành cho đặc quyền rồi, thì phải đền đáp lại, chừng như đó là cách của người Hoa trên thương trường: đã không làm nghĩ cử đẹp thì thôi, còn làm thì phải làm cho xôm trò. Sự xôm trò đó là ngôi chợ Bình Tây. Nguyên vào thời đó (khoảng năm 1920), chính quyền thành phố Sài Gòn nhận thấy ngôi Chợ Lớn cũ nằm ở gần chân cầu Chà Và đã quá cũ và chật chội, nên có ý định tìm địa điểm để dời đi, mà tìm mãi vẫn chưa có nơi nào thích hợp. Biết được tin đó, Quách Đàm hứa tặng không một khu đất khá rộng nằm ở khu vực Bình Tây, lúc đó đang là đất trống, vốn là sở hữu của ông. Chẳng những tặng đất, Quách Đàm còn cam đoan sẽ xây tặng cho một ngôi chợ mới, bề thế với một “số ít” điều kiện kèm theo: cho ông được cất hai dãy phố cặp theo hai hông chợ và phải đặt ngay trước cửa chợ một bức tượng đồng đúc hình … Quách Đàm.

Điều kiện dễ dàng đó đã nhanh chóng được chính quyền chấp nhận. Chợ xây hơn hai năm thì xong. Khi khánh thành, chợ được đặt tên là chợ Bình Tây, nhưng người dân vẫn quen gọi là Chợ Lớn Mới.

Kể từ khi tặng ngôi chợ, công việc làm ăn của Quách Đàm càng thêm khấm khá. Tuy nhiên, trong kinh doanh, ông cũng dùng những mưu mô thường thấy ở những tay phú thương cỡ bự. Có chuyện kể rằng, khi thấy giá lúa gạo đang bị sụt và ứ đọng, họ Quách đã tung tiền thu mua hết số lúa gạo ứ đọng, đem về chứa trong kho, rồi nhờ một người quen ở Singapore đánh liên tiếp nhiều bức điện tín về Sài Gòn đặt hàng lúa gạo với giá cao không thể ngờ. Tin đó được truyền rao ra ngoài, lập tức nhiều người cùng đổ xô đi thu mua lúa gạo, dĩ nhiên là với giá cao chứ từng thấy. Cho đến khi họ vỡ lẽ ra, thì chỉ có nước ngậm đắng nuốt cay và chịu trận. Quách Đàm vớ bở cú đó. Ông ta mãn nguyện tâm sự với bạn bè: “Khi ra làm ăn, tôi đã nhờ thầy địa lý coi hướng xây nhà trên một long mạch, đồng thời đặt tên cho công ty của mình là THÔNG HIỆP, điều đó cho thấy tôi sẽ phất lên”. Giải nghĩa chữ THÔNG HIỆP như thế này: Thông thương sơn hải (bán buôn khắp chốn), Hiệp quán càn khôn (thu tóm cả đất trời).

Dù lời nói của Quách Đàm có tính khoa trương, nhưng thực tế phải nhìn nhận là ông đã làm được việc mà nhiều người không làm nổi: từ bạch đinh trở thành đại phú chỉ với sức lực, tài năng và ý chí của mình.

Thượng Hồng

* Trích “Giai thoại về các tỉ phú Sài Gòn xưa”